Thứ 4, 01/08/2018 09:42:29 GMT+7

Xuất khẩu hải sản nuôi: Phấn đấu trên 10 tỷ USD vào năm 2050

Đánh giá bài viết

(Thủy sản Việt Nam) - Đây là mục tiêu được Bộ NN&PTNT đặt ra cho lĩnh vực nuôi biển trong tương lai và được đưa vào dự thảo Chiến lược nuôi biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Dự thảo đang lấy ý kiến các bên để hoàn thiện trình Chính phủ phê duyệt.


Việt Nam có tiềm năng lớn về nuôi biển Ảnh: VA

Mục tiêu top 5 thế giới

Dựa vào những tiềm năng, thế mạnh sẵn có, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu phát triển công nghiệp nuôi biển thành ngành sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, bền vững, tạo sản phẩm hàng hóa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng cao, có thương hiệu, cung cấp cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Đến năm 2020, hình thành mới và tăng số doanh nghiệp lớn tham gia nuôi biển công nghiệp xa bờ tại các tỉnh trọng điểm như Kiên Giang, Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu... Diện tích nuôi biển sẽ đạt 270.000 ha, trong đó: vùng biển xa bờ là 6.000 ha; ven bờ, ven đảo 14.000 ha; bãi triều và trong đất liền 250.000 ha; thể tích lồng nuôi đạt 8 triệu m3. Sản lượng đạt 750.000 tấn; trong đó, nhóm cá biển 200.000 tấn, nhuyễn thể 400.000 tấn, nhóm rong biển 150.000 tấn, giáp xác 60.000 tấn. Giá trị xuất khẩu khoảng 1,5 tỷ USD.

Đến năm 2030, diện tích nuôi đạt 300.000 ha, trong đó: vùng biển xa bờ 30.000 ha; gần bờ, ven đảo 20.000 ha; bãi triều 250.000 ha; thể tích lồng nuôi đạt 9 triệu m3. Sản lượng đạt 1,75 triệu tấn, trong đó: nhóm cá biển 600.000 tấn, nhóm rong biển 500.000 tấn khô, nhuyễn thể 500.000 tấn, giáp xác 100.000 tấn, các sản phẩm khác 50.000 tấn. Giá trị xuất khẩu 5 - 8 tỷ USD. Đến thời điểm này, sẽ đáp ứng được 70 - 80% cơ sở hạ tầng cho vùng nuôi biển tập trung, 70 - 80% nhu cầu con, cây giống hải sản; tự sản xuất 80 - 90% nhu cầu vật tư cho nghề biển. Đồng thời, tạo được 2 triệu việc làm với mức thu nhập bình quân đầu người gấp 3 - 4 lần hiện nay...

Tầm nhìn 2050, Việt Nam có nền công nghiệp nuôi biển tiên tiến, phát triển bền vững, với công nghệ hiện đại và phương thức quản lý khoa học. Công nghệ nuôi biển trở thành bộ phận chính của kinh tế biển, đóng góp 12 - 15% GDP. Sản lượng nuôi biển đạt 3 triệu tấn/năm, giá trị thương mại và xuất khẩu trên 10 tỷ USD.

Lựa chọn đối tượng nuôi

Về cá biển, tập trung các đối tượng có giá trị kinh tế như: song, chim vây vàng, hồng, tráp, vược, giò, ngừ, cá cảnh biển… Nuôi theo phương thức công nghiệp, tiên tiến, đảm bảo an toàn thực phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng biển, đảo xa bờ.

Về nhuyễn thể, phát triển mạnh nuôi các đối tượng có lợi thế cạnh tranh, giá trị kinh tế cao như: Ngao/nghêu, ngao giá, sò huyết, hàu, ốc hương, tu hài, vẹm, bào ngư, trai ngọc… Nuôi giàn/bè ở vùng biền gần bờ, ven đảo với quy mô công nghiệp, đảm bảo an toàn thực phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu; nuôi tập trung có kiểm soát, có chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc bãi triều, đầm phá, ven biển…

Cùng đó, phát triển trồng các loài rong biển thuộc nhóm rong lục, rong nâu, rong đỏ như rong câu, rong nho, guột, mứt, vi tảo biển… Áp dụng phương thức trồng công nghiệp với các vi tảo biển; phát triển mô hình trồng công nghiệp đảm bảo chất lượng, có chứng nhận; hay kết với các loài thủy sản nuôi biển khác…

Còn về giáp xác là các đối tượng: Tôm hùm (tôm hùm bông, tôm hùm xanh, tôm hùm đỏ và tôm hùm tre), cua, ghẹ. Với tôm hùm, nuôi lồng bè hiện đại, quy mô công nghiệp, đảm bảo tuân thủ kỹ thuật, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường; sử dụng hệ thống lọc sinh học tuần hoàn trên bề, từng bước chuyển sang sử dụng thức ăn công nghiệp. Đối với cua, ghẹ, nuôi sinh thái, hữu cơ bằng hình thức kết hợp, luân canh trong ao đầm với các đối tượng khác…

Đồng bộ giải pháp

Thực hiện chính sách giao khu vực biển theo quy định, đồng thời xây dựng các chính sách ưu đãi với các tổ chức, cá nhân nuôi biển. Đáng chú ý về thuế và phí có rất nhiều ưu đãi. Cụ thể, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư trong công nghiệp nuôi biển như sản xuất giống, nuôi biển công nghiệp xa bờ, sản xuất thức ăn hỗ hợp hoàn chỉnh, công nghiệp phụ trợ; Điều chỉnh biểu thuế nhập khẩu theo hướng ưu đãi cho doanh nghiệp nuôi biển ứng dụng công nghệ cao nhập khẩu trang thiết bị sản xuất; Rà soát các khoản phí, lệ phí và tiến hành sửa đổi, bãi bỏ những văn bản không còn phù hợp liên quan đến phí, lệ phí trong lĩnh vực thủy sản.

Ngoài ra, cần tập trung giải pháp xây dựng thương hiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại; giải pháp về khoa học công nghệ, khuyến ngư; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị ngành hàng… Cùng đó là thực hiện các chương trình, đề án, dự án phục vụ nuôi biển như: Chương trình phát triển giống hải sản; Đề án phát triển nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ nuôi biển giai đoạn 2020 - 2030; Chương trình phát triển công nghệ nuôi cá lồng vùng biển xa…


>> Tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia hàng đầu về công nghiệp nuôi biển trong khối ASEAN và châu Á, top 5 trên thế giới về sản lượng và giá trị xuất khẩu hải sản nuôi. Sản lượng nuôi biển đạt 3 triệu tấn/năm, giá trị thương mại và xuất khẩu trên 10 tỷ USD.
Phạm Thu
Email
Họ tên
Nội dung

NAN BIOTECH: Bốn vấn đề cốt lõi trong nuôi tôm thời kỳ biến đổi khí hậu

Trước tình hình biến đổi khí hậu và thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, ảnh hưởng nhiều NTTS cũng như an toàn dịch bệnh trong nuôi tôm; một mặt, người nuôi tôm phải tìm kiếm những hướng đi an toàn, bền vững để đạt hiệu suất cao, tối ưu chi phí, mặt khác, họ phải nghĩ đến chất lượng đầu ra của con tôm đảm bảo cho xuất khẩu. NAN Biotech - một công ty trực thuộc Tập đoàn NAN Group đã đưa ra một số 4 vấn đề cốt lõi cần tập trung để giúp người nuôi tôm khắc phục được vấn đề này.


Top