T5, 23/07/2020 02:54

Mùa tát đìa ăn Tết

(Thủy sản Việt Nam) – Năm hết Tết đến. Thời khắc sang xuân mỗi lúc càng giục giã khiến tôi càng nhớ đến quê mình năm nào cũng tát đìa ăn tết. Hồi đó, mỗi lần đầu làng cuối xóm vang lên tiếng quết bánh phồng thình thịch cũng là lúc bà con trong xóm chuẩn bị thùng, gàu, lu, khạp để tát đìa ăn Tết.

Gà vừa gáy sáng, cha tôi đã chuẩn bị cơm nước và bảo mọi người mang đồ nghề ra đồng. Vừa tới bờ đìa, bác Tư đã vội phân công cho ba tôi và tất cả anh em be bờ, nhét bọng, còn bác thì dùng đăng chặn hết các ngõ ngách không cho cá phóng đi. Đâu đó xong xuôi, mọi người mới chia nhau tát. Người tát gàu, kẻ tát thùng. Riêng những người đứng gàu (1) trung bình nửa tiếng là đổi tay để hút thuốc, nghỉ ngơi và hàn huyên tâm sự. Không khí rôm rả và vui nhộn khác thường.

 

Tát đìa bằng gàu dai ( Ảnh tư liệu )

Mặt trời vừa đứng bóng, mực nước đã giựt hơn phân nửa, cá bắt đầu động đậy, lớp ục, lên ngớp như cơm sôi. Giữa lúc ấy, bác Tư trông vẻ “lão nông tri điền” đứng trên bờ đìa nhìn trời, nhìn mây, nhìn mặt nước sôi bọt rồi nghiêm giọng nói “Năm nay cá lóc nhiều, cá trê ít, chắc non mười giạ…”. Lời của bác Tư thốt ra ai cũng nể vì xưa nay bác vốn là một “Thầy đìa” nổi tiếng, chỉ cần nhìn mặt nước xao động và sau một hồi “thám hiểm” dưới đáy đìa là biết được cá nhiều hay ít. Một lát sau, có mấy con cá lóc to bằng bắp chuối cứ trườn qua trườn lại rồi lóc lên chỗ nước lép xép để tìm đường thoát thân. Ngay lúc đó, bác Tư đã nhanh chân nhảy xuống móc mang thẩy lên bờ bảo đứa con gái út chuẩn bị đốt rơm nướng chuẩn bị cho buổi cơm chiều. Những con cá nướng trui vàng rực, thơm phức lần lượt đem ra đặt trên những tấm lá chuối non khiến ai nấy nhìn cũng chảy nước miếng .

 

Bóng chiều vừa chập choạng, bác Tư đã sai tôi đốt rơm un muỗi và mang hai ngọn đèn khí đá treo ngay miệng đìa. Trong cảnh tranh tối tranh sáng và khói rơm mịt mù, vậy mà bữa cơm “dã ngoại” hôm ấy còn ngon hơn bữa giỗ. Mọi người quay quần bên nhau cười nói rổn rảng. Bọn đàn ông con trai người ngồi chồm hổm, kẻ tréo ngoãy, còn đàn bà con gái thì ngồi xếp bằng. Tất cả đều dùng tay bóc gỡ cá, cuốn bánh tráng nhai chung với đọt xoài và rau cải trời chấm nước mắm chanh giằm ớt, cay xé miệng, vừa ăn vừa hít hà. 

 

Bắt cá đìa tại gần kinh Vĩnh Tế – An Giang

 Ăn cơm xong, mọi người tiếp tục tát cho đến lúc gà gáy canh ba thì lũ cá mới bắt đầu phơi lưng, ai nấy đều mừng quýnh, tất cả bọn đàn ông đều săn quần nhảy xuống đìa. Mấy đứa con gái có nhiệm vụ cầm đuốc đứng hai bên mép đìa quơ qua quơ lại để xua muỗi và chuyển cá lên bờ.

 Mặt đìa lấp xấp nước, bùn tới gối nhưng cá thì lội dầy đăc không cách nào bắt cho xuể. Ngoài cá ra còn có lươn, rắn, rùa, ốc bươu nhưng đa số đều là rắn hiền như ri voi, ri cá, bông súng. Tôi và bác Tư lần lượt chuyển lên bờ trên ba mươi giỏ cá mà vẫn chưa hết. Nhóm bắt hôi phen này trúng mánh vì nước mội (2) xâm xấp, cá chúi nhiều vô số kể, mạnh ai nấy mò. Mấy con cá lóc “bự” thà chết chứ không chịu nạp mạng. Chúng cắm đầu xuống sình non thật sâu nên anh em phải thọc tay tới nách mới kéo chúng lên được.

Cá vừa tát đìa.

Bắt xong, mọi người lên bờ dồn cá vào bao, vào giỏ chất đầy cộ (3) cho trâu kéo về. Bác Tư chia đều cho mỗi người một giỏ đầy nào cá, nào rắn, rùa để ăn Tết. Tôi cũng được một bao xách xệ tay. Phần còn lại, bác lựa những con to nhất để biếu xóm giềng và rọng ăn dần qua Tết. Bà con hàng xóm hay tin bác Tư tát đìa ai nấy cũng xúm qua đánh vẩy, móc ruột. Cá nhỏ làm mắm, cá chết phơi khô. Ai về cũng được biếu một rổ, không lấy cũng không đựợc.

Thoắt cái mà đã ba mươi năm, một hôm có dịp trở về thăm lại vùng đất đầy ắp những kỷ niệm vui buồn, tôi không khỏi ngỡ ngàng trước sự đổi thay kỳ diệu của quê mình. Mới ngày nào chúng tôi còn mang nóp ra bờ đìa ngủ cắm câu, nghe cá lóc táp bùm bụp suốt đêm, vậy mà cái đìa và cây gáo bên bờ đìa năm xưa, nơi trú nắng trú mưa của những đàn chim trời nay đã không còn dấu tích, thay vào đó là những luống rẫy xanh rì. Cuộc sống đã hồi sinh, tất cả đều thay da đổi thịt, nhưng trong lòng tôi cảm thấy như mất mát một cái gì quá đỗi thân thương. Con cháu chúng ta sẽ không bao giờ thấy được những anh nông dân cầm thùng tát cá hoặc chứng kiến hai người đàn ông vai u thịt bắp đứng hai bên bờ đìa múc nước bằng gàu dai với những động tác nhịp nhàng, mồ hôi đầm đìa mà vẫn nở nụ cười tươi rói.

Ngày nay bà con dùng lưới bao, thay vì tát đìa.

Tất cả những thứ đó đã đi vào ký ức của những người dân quê hiền lành, chất phác. Bây giờ, mỗi lần nhìn con trăng hạ tuần tháng Chạp và nghe gió bấc lao xao thổi về, tôi lại không sao ngăn được cảm hoài. Nơi miền quê xa lơ xa lắc nào đó, nếu có còn tát đìa chăng nữa, người ta cũng chỉ tát bằng máy Cô-le hoặc dùng lưới để chụp cá chứ đâu mình trần chân đất thức suốt đêm để tát cho cạn đìa!                                                       

 

Ghi chú : 

(1) Đứng gàu : Đứng tát bằng gàu dai . Gàu dai , còn gọi là gàu đai (seau à cordes) , loại gàu đan bằng tre hoặc trúc có 4 sợi dây dài do hai người đứng hai bên miệng ao hay miệng đìa để tát nước

(2) Mội:  Chỗ nước chảy ra từ các hang, các kẻ hở của đất gọi là mội.

(3) Cộ : loại xe không bánh, làm bằng cây và tre do trâu kéo. 

 

Bài, ảnh: Hoài Phương – Hoàng Vũ   

Bình luận

Chưa có bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

LIÊN HỆ
Back to top
error: Content is protected !!