Chi phí năng lượng chiếm 30% giá thành sản phẩm, dù chỉ là một số liệu tham khảo nhưng đã thể hiện thực tế, năng lượng là một cấu phần chi phí quan trọng trong nuôi trồng, chế biến thuỷ sản.

Ở khâu nuôi trồng, sục khí, quạt nước, bơm cấp thoát nước đều sử dụng điện, trong khi, tại khâu chế biến, hệ thống lạnh và cấp đông có thể chiếm khoảng 70% tổng năng lượng tiêu thụ tại doanh nghiệp.

Theo số liệu thống kê của Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), trong giai đoạn 2015-2017, điện năng cung cấp cho nuôi trồng thủy sản tăng rất cao. Công suất phụ tải tăng bình quân 9,55%, từ 7.780 MW (năm 2015) lên 9.529 MW (năm 2017) với tốc độ tăng trưởng bình quân điện thương phẩm 10,8%. Năng lượng để phục vụ khâu bơm nước, quạt nước, sục khí, hút bùn, quan trắc môi trường và các hoạt động khác chiếm tới 10 – 20% chi phí đầu tư.

Nghiên cứu trong Chương trình Sản xuất và Tiêu dùng bền vững SWITCH-Asia năm 2022 tại một nhà máy chế biến cá tra phi lê đông lạnh đưa ra hình dung cụ thể hơn. Theo đó, để sản xuất 1 tấn sản phẩm phi lê đông lạnh, mức tiêu thụ điện năng trung bình là 720-1300 kWh. Hệ thống trữ đông chiếm khoảng 55% lượng điện năng tiêu thụ, còn khâu cạo vẩy cá cũng tiêu tốn 11% tổng năng lượng sử dụng. Bên cạnh đó, việc chế biến phụ phẩm cá tra cũng đòi hỏi lượng điện nhất định, trung bình 34-42 kWh cho một tấn nguyên liệu thô.

Câu chuyện năng lượng cho ngành nuôi trồng và chế biến thuỷ sản không đơn thuần nằm ở tổng lượng điện tiêu thụ. Theo số liệu của EVN, năm 2017, điện thương phẩm cho các vùng nuôi tôm của 8 tỉnh ĐBSCL gồm Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang (theo địa giới hành chính cũ) chiếm tới 79,3% thành phần điện cho nông – lâm – ngư nghiệp. 5 tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau có tỷ lệ điện cho nuôi tôm trong cơ cấu điện cho nông – lâm – ngư nghiệp chiếm từ 85% đến gần 99%.

Khi quy mô nuôi trồng lớn hơn, không chỉ với tôm nước lợ, đồng nghĩa, các nhà máy chế biến thuỷ sản cần mở rộng quy mô hoặc gia tăng về số lượng. Bài toán tổng năng lượng tiêu thụ phải được hoá giải cùng với việc điều chỉnh phụ tải và hệ thống kết nối. Nếu tính đúng, tính đủ, vấn đề chi phí năng lượng sẽ không chỉ nằm ở riêng các hoạt động nuôi trồng và chế biến trong những ao nuôi, nhà máy cụ thể.

Theo các chuyên gia, thay đổi trong nhận thức về sử dụng năng lượng trong ngành thuỷ sản đã khá rõ, nhưng chưa đồng đều. ThS Lê Quốc Cường, Giám đốc Trung tâm đào tạo, phát triển kinh doanh quốc tế và Logistics, Viện Kinh doanh quốc tế và Logistics, Trường Đại học Thương mại nhận định, các doanh nghiệp xuất khẩu lớn đã bắt đầu coi hiệu quả năng lượng là một nội dung của chiến lược cạnh tranh: đầu tư hệ thống cấp đông hiệu suất cao, biến tần, động cơ hiệu suất cao, năng lượng sinh khối, điện mặt trời, hệ thống đo lường và quản lý năng lượng.

Trong khi đó, không ít doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sơ chế và hộ nuôi vẫn chủ yếu coi năng lượng là một khoản chi phí phải thanh toán hằng tháng; chỉ thay đổi thiết bị khi hỏng hoặc khi chịu sức ép trực tiếp từ khách hàng và cơ quan quản lý.

“Theo tôi, năng lượng đồng thời liên quan đến ba vấn đề: sử dụng hiệu quả tài nguyên đầu vào; kiểm soát phát thải và tác động môi trường trong toàn chuỗi; đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu. Do đó, tiết kiệm năng lượng không chỉ là giảm hóa đơn tiền điện mà còn là nâng cao năng suất, giảm phát thải và củng cố khả năng tham gia chuỗi cung ứng xanh”, ThS Lê Quốc Cường nhấn mạnh.

Từ góc nhìn tư vấn, ông Trần Anh Xuân, Giám đốc Đại diện Ban Truyền động kiêm giám đốc động cơ và dịch vụ truyền động ABB Việt Nam cho rằng, định hướng của các chủ doanh nghiệp đã thay đổi rất rõ rệt trong 2-3 năm trở lại đây.

Trước đây, doanh nghiệp thường coi tiền điện là chi phí cố định phải chấp nhận. Nhưng khi biên lợi nhuận bị thu hẹp và giá điện tăng, tối ưu năng lượng đã trở thành ưu tiên hàng đầu để bảo vệ lợi nhuận thuần.

“Các thị trường xuất khẩu lớn như EU, Mỹ hay Nhật Bản không chỉ kiểm tra chất lượng tôm, cá mà còn đo lường “Dấu chân Carbon” (Carbon Footprint) trên từng kilôgam sản phẩm. Yêu cầu tuân thủ các chứng nhận bền vững (ASC, BAP, ISO 50001) hay cơ chế kiểm soát carbon biên giới (CBAM) đã biến việc tiết kiệm năng lượng từ một “lựa chọn khuyến khích” thành “điều kiện bắt buộc” để giữ đơn hàng. Đây là “tấm visa Xanh” vào thị trường quốc tế”, ông Trần Anh Xuân bổ sung.

Bàn sâu hơn về câu chuyện chuyển đổi năng lượng trong ngành thuỷ sản, ông Trần Anh Xuân khẳng định, bài toán chuyển đổi năng lượng không thể áp dụng chung một công thức. Doanh nghiệp lớn thường có nguồn lực tài chính mạnh và đội ngũ kỹ thuật chuyên trách, họ có khả năng chuyển đổi đồng bộ toàn hệ thống. Một động cơ có hiệu suất thấp hơn sẽ có chi phí đầu tư ban đầu rẻ hơn nhưng lại tốn hơn về chi phí vận hành.

“Điều này trở nên rõ ràng hơn khi xem xét tổng chi phí sở hữu. Khoảng 97% tổng chi phí sở hữu của động cơ SynRM (được sử dụng chủ yếu cho các máy móc công nghiệp đòi hỏi hiệu suất cao và tiết kiệm năng lượng) đến từ chi phí điện năng tiêu thụ để vận hành nó, chi phí bảo trì chiếm 1%, chi phí đầu tư chỉ chiếm 2%.

Hay trường hợp nhà máy cấp đông và sản xuất bột cá tại Myanmar được giới thiệu cho thấy 27 động cơ IE4 và 27 biến tần đã được lắp cho hệ thống máy nén. Theo tính toán, giải pháp giúp giảm khoảng 12% tổng chi phí liên quan đến máy phát điện, hệ thống dây cáp và xây dựng cơ bản so với thiết kế truyền thống. Cùng với đó, công suất điện yêu cầu giảm tới 2.400 kW”, ông Trần Anh Xuân ví dụ.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo ông Xuân, do ngân sách hạn chế hơn nên chiến lược thông minh nhất là “Chia nhỏ lộ trình – Lấy ngắn nuôi dài”.

ThS Lê Quốc Cường lại đưa ra cách tiếp cận thực tế hơn. Theo ông, doanh nghiệp không nên bắt đầu bằng việc mua thiết bị, mà phải bắt đầu bằng dữ liệu. Khi chưa biết năng lượng đang được sử dụng ở đâu và thất thoát tại khâu nào thì rất khó lựa chọn đúng công nghệ.

“Nghĩa là cần lập đường cơ sở về mức tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm; lắp đo đếm tại những khu vực tiêu thụ lớn như hệ thống lạnh, máy nén, bơm, quạt, băng chuyền, sản xuất nước đá và xử lý nước.

Về quản trị, doanh nghiệp nên thành lập bộ phận hoặc phân công người chịu trách nhiệm năng lượng; xây dựng mục tiêu theo năm và theo từng dây chuyền; áp dụng ISO 50001 hoặc một hệ thống quản lý đơn giản phù hợp với quy mô; đồng thời tích hợp số liệu năng lượng với kiểm kê khí nhà kính, truy xuất nguồn gốc và báo cáo bền vững”, vị chuyên gia từ Đại học Thương mại bổ sung.

Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo ông Lê Quốc Cường, chuyển đổi không nhất thiết phải bắt đầu bằng dự án đầu tư lớn.

Thứ nhất là giải pháp quản lý và vận hành ít vốn bao gồm hạn chế thiết bị chạy không tải, điều chỉnh nhiệt độ kho lạnh hợp lý, xả tuyết đúng quy trình, đóng cửa kho, bảo dưỡng máy nén, bố trí sản xuất phù hợp với công suất.

Thứ hai là đầu tư trung bình như lắp công tơ phụ, biến tần, động cơ hiệu suất cao, cải thiện cách nhiệt và hệ thống điều khiển.

Thứ ba mới là thay đổi dây chuyền cấp đông, máy nén, hệ thống lạnh trung tâm hoặc nguồn năng lượng.

Với hộ nuôi, mục tiêu phải là duy trì sản lượng và điều kiện an toàn sinh học với mức năng lượng thấp hơn, chứ không phải đơn giản cắt giảm thời gian vận hành quạt nước hoặc sục khí.

“Doanh nghiệp nên thực hiện theo chu trình: đo lường – xác định điểm ưu tiên – thí điểm – kiểm chứng kết quả – nhân rộng. Hiệu quả năng lượng không có nghĩa là sử dụng ít năng lượng bằng mọi giá, mà là sử dụng đúng loại năng lượng, đúng thiết bị, đúng thời điểm và tạo ra nhiều giá trị sản phẩm hơn trên mỗi đơn vị năng lượng tiêu thụ”, ThS Lê Quốc Cường đặc biệt lưu ý.

Dù chuyển đổi tiết kiệm năng lượng ngành thuỷ sản đến từ nhu cầu nội tại của từng doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích, thúc đẩy và hỗ trợ từ phía quản lý nhà nước đóng vai trò rất quan trọng.

Theo ông Trần Anh Xuân, đầu tiên, cần có chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ khấu hao nhanh, cho phép doanh nghiệp được giảm thuế Thu nhập Doanh nghiệp hoặc áp dụng cơ chế khấu hao nhanh đối với các khoản đầu tư nâng cấp công nghệ giúp giảm phát thải carbon và tiết kiệm điện năng. Thứ hai, xây dựng tiêu chuẩn và lộ trình chuyển đổi sang công nghệ hiệu suất cao. Và cuối cùng Nhà nước hoặc các quỹ phát triển ngành hàng nên có chương trình tài trợ chi phí kiểm toán năng lượng ban đầu cho các SMEs thủy sản.

 

ThS Lê Quốc Cường đề xuất năm nhóm giải pháp, với tính chất toàn diện, bao trùm.

 

Thứ nhất, rà soát Thông tư 52/2018/ TT-BCT quy định định mức tiêu hao năng lượng trong ngành công nghiệp chế biến thủy sản, áp dụng cho quá trình chế biến công nghiệp của các nhóm sản phẩm cá da trơn và tôm trên cơ sở dữ liệu thực hiện giai đoạn 2019–2025.

Trên cơ sở đó, xây dựng lộ trình mở rộng quản lý từ hai nhóm cá da trơn và tôm sang các công đoạn tiêu thụ năng lượng lớn như kho lạnh, sản xuất nước đá và logistics lạnh. Việc mở rộng phải có thí điểm và không áp dụng ngay nghĩa vụ phức tạp cho mọi chủ thể nhỏ.

Thứ hai, xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra năng lượng – phát thải riêng cho các chuỗi chủ lực như tôm, cá tra và cá ngừ. Nhà nước cần ban hành phương pháp, hệ số phát thải và dữ liệu nền thống nhất để doanh nghiệp không phải sử dụng mỗi khách hàng một phương pháp khác nhau.

Thứ ba, cụ thể hóa các công cụ tài chính. Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tạo cơ sở phát triển tổ chức dịch vụ năng lượng – ESCO, công cụ hỗ trợ tài chính và Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Cần chuyển cơ sở pháp lý này thành các gói phù hợp với thủy sản: hỗ trợ kiểm toán, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất, cho thuê thiết bị và hợp đồng thanh toán từ phần năng lượng tiết kiệm được.

Thứ tư, phát triển hạ tầng và dịch vụ dùng chung cho hộ nuôi, hợp tác xã, cơ sở sơ chế và doanh nghiệp nhỏ, như tư vấn kỹ thuật, đo lường, kho lạnh, xử lý nước thải, thu gom phụ phẩm và chứng nhận nhóm. Cách làm này phù hợp hơn việc yêu cầu từng hộ tự đầu tư một hệ thống hoàn chỉnh.

Thứ năm, mọi hỗ trợ phải gắn với kết quả có thể kiểm chứng. Doanh nghiệp chỉ mua thiết bị nhưng không vận hành hiệu quả không nên tiếp tục được hưởng ưu đãi. Ngược lại, chủ thể chứng minh được mức giảm năng lượng, nước, phát thải hoặc tổn thất nguyên liệu cần được ưu tiên về tín dụng, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu xanh.