TS Trần Hữu Hiệp, nguyên Ủy viên Chuyên trách, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ là một chuyên gia kinh tế đã có hơn 30 năm gắn bó với sự phát triển ngành nông nghiệp ĐBSCL. Quãng thời gian ấy, ông chứng kiến từ những ao tôm, bè cá tự phát dần dần trở thành vùng nuôi tập trung với quy trình nuôi được chuẩn hoá đáp ứng từ VIETGAP tới các chứng nhận phát triển bền vững như ASC, ASC-GAP, BAP hoặc GlobalGAP. Thuỷ sản Việt Nam đã gia nhập các thị trường khó tính hàng đầu thế giới như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ…

Tuy nhiên, đó chưa bao giờ là vạch đích mong muốn. Thuỷ sản đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu 14 – 16 tỷ USD vào năm 2030 để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng hành cùng đất nước tiến vào kỷ nguyên vươn mình. Song song với kim ngạch, giá trị người nông dân giữ lại cũng phải ngày càng được nâng cao. Vậy nên, chặng đường sắp tới sẽ có nhiều thử thách.

Trong bối cảnh như vậy, theo TS Trần Hữu Hiệp, chuyển dịch xanh trong ngành nuôi trồng thuỷ sản ĐBSCL không chỉ là câu chuyện thử nghiệm mà đã trở thành một xu hướng chung. Động lực đầu tiên của sự chuyển đổi này là vấn đề kinh tế.

“Nuôi thủy sản sử dụng khá nhiều điện cho quạt nước, máy bơm, sục khí, làm lạnh… Khi giá điện và chi phí đầu vào tăng, việc chủ động một phần nguồn năng lượng giúp người nuôi giảm chi phí và ổn định sản xuất”, vị chuyên gia giải thích.

Dù vậy, ông nhận định, phía sau bài toán tiền điện là một thay đổi lớn hơn. Theo đó, người nuôi bắt đầu nhìn năng lượng như một bộ phận của mô hình sản xuất xanh. Đây là yêu cầu ngày càng rõ từ doanh nghiệp chế biến, nhà nhập khẩu và các thị trường xuất khẩu.

“Một trang trại tôm bố trí hệ thống điện mặt trời để hỗ trợ vận hành máy bơm, quạt nước vào ban ngày. Giá trị không chỉ nằm ở khoản điện tiết kiệm được mà còn ở việc giảm phụ thuộc vào điện lưới và từng bước hình thành mô hình nuôi có dấu chân carbon thấp hơn”, nguyên Ủy viên Chuyên trách, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ nói.

Đối với ĐBSCL, những “bước chân xanh” được nâng đỡ bởi đặc điểm tự nhiên, xã hội của vùng kinh tế này. Về năng lượng mặt trời, theo số liệu của Tổ chức hợp tác quốc tế Đức GIZ tại Việt Nam, mỗi năm, các tỉnh ĐBSCL nhận trung bình 2.200 – 2.500 giờ nắng, năng lượng bức xạ mặt trời trung bình ngày 4,3 – 4,9kWh/m2.

Tại khu vực này, hơn 90% số ngày trong năm đều nhận được ánh sáng mặt trời đủ mạnh để vận hành các tấm thu năng lượng mặt trời. Tổng công suất điện mặt trời ĐBSCL có thể lên tới 136.275MW, điện lượng ước tính 216,5 tỷ kWh/năm.

Công nghệ lưu trữ BESS ngày càng tiến bộ được đánh giá sẽ giúp ĐBSCL khai thác tốt hơn tiềm năng điện mặt trời, ổn định lưới điện và tối ưu hoá hiệu quả sử dụng loại “năng lượng xanh” cho phát triển kinh tế, trong đó có ngành nuôi trồng thuỷ sản.

Song song với điện mặt trời, nhờ thế mạnh về nông nghiệp, ĐBSCL cũng có tiềm năng điện sinh khối lớn nhất trong các vùng sinh thái. Các nghiên cứu khoa học chỉ rõ, nguyên liệu sinh khối vùng ĐBSCL chiếm hơn 50% tổng nguyên liệu sinh khối nông nghiệp cả nước. Một nghiên cứu của Đại học Cần Thơ cho biết, tính toán trên lý thuyết, nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào có thể tạo lượng điện tương đương 113.000 GWh.

Phụ phẩm sau quá trình chế biến thuỷ sản hiện chưa được coi là nguồn nguyên liệu chính cho sản xuất điện sinh khối ĐBSCL. Tuy nhiên, trên thế giới, giải pháp năng lượng sinh học từ phụ phẩm cá đã được nhiều nước áp dụng. Nhờ quá trình lên men kỵ khí tạo biogas, các nhà máy chế biến có thể vừa xử lý chất thải, vừa sản xuất điện hoặc nhiệt phục vụ nội bộ.

Theo TS Trần Hữu Hiệp, năng lượng sinh khối vừa góp phần “xanh hoá” điện tiêu thụ cho nuôi trồng, thậm chí, sơ chế thuỷ sản nuôi. Bên cạnh đó, nó còn giúp giảm thiếu lượng phát thải CO2 trên mỗi kg thuỷ sản thương phẩm. Khi thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon, đây sẽ là một lợi thế cạnh tranh chứ không chỉ là giải pháp môi trường.

Dù vậy, vị chuyên gia cho rằng, giá trị lớn hơn nằm ở việc biến chất thải thành tài nguyên. ĐBSCL có lợi thế đặc biệt vì sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và thủy sản tập trung. Phụ phẩm của ngành này có thể trở thành đầu vào cho ngành khác, tạo nên một vòng tuần hoàn thay vì phát sinh chất thải.

“Một trang trại kết hợp nuôi thủy sản với thu gom phụ phẩm chăn nuôi để sản xuất biogas có thể vừa tạo nguồn năng lượng cho hoạt động sản xuất, vừa giảm lượng chất thải và phát thải ra môi trường. Đó chính là tư duy kinh tế tuần hoàn mà ĐBSCL cần phát triển”, TS Trần Hữu Hiệp khuyến nghị.

Cà Mau là một trong những địa phương tiên phong trong ứng dụng công nghệ sinh học và năng lượng tái tạo trong nuôi trồng thuỷ sản tại ĐBSCL. Theo Chi cục Thuỷ sản Cà Mau, hệ thống biogas, điện mặt trời, xử lý nước bằng vi sinh tự nhiên, tuần hoàn nước… giúp giảm 15-20% chi phí năng lượng và giảm đáng kể phát thải CO2.

Cụ thể, trong giai đoạn 2021-2023, trong khuôn Dự án “Chuyển đổi năng lượng và giảm thiểu biến đổi khí hậu ở Việt Nam” tại xã Long Điền, tỉnh Cà Mau, hơn 950 hầm biogas được xây dựng cho các hộ tham gia dự án.

Kết quả là, lượng khí nhà kính phát thải từ các ao nuôi tôm đã giảm 16,9% đối với mô hình nuôi tôm quảng canh, và giảm 10,8% đối với mô hình nuôi tôm thâm canh.

Tại xã Long Điền Tây, Bạc Liêu (nay là xã Gành Hào, Cà Mau), một hộ nông dân nuôi tôm đã được dự án hỗ trợ lắp đặt các tấm pin điện mặt trời. Trước khi có điện mặt trời, tiền điện phải trả cho các áo nuôi tôm trung bình 7 triệu đồng – 10 triệu đồng/tháng. Sau khi sử dụng năng lượng tái tạo, chi phí này giảm đáng kể, xuống còn 3 triệu đồng – 7 triệu đồng/tháng.

Tuy nhiên, điểm chung trong những bài học thành công này là nông hộ được hỗ trợ một phần lớn chi phí đầu tư vào các hệ thống năng lượng tái tạo. Nói cách khác, vấn đề trước nhất vẫn là vốn đầu tư ban đầu.

 

Đồng tình với những khó khăn về tài chính của các dự án chuyển đổi xanh, nhất là tại các nông hộ nhỏ, TS Trần Hữu Hiệp vẫn thẳng thắn, các chương trình hỗ trợ rất cần thiết nhưng không thể xem là lời giải duy nhất. Nếu chuyển đổi xanh chỉ dựa vào ngân sách hoặc các dự án hỗ trợ thì khó tạo ra quy mô lớn và duy trì lâu dài.

Vị chuyên gia đề xuất, cần chuyển từ tư duy “hỗ trợ một lần” sang xây dựng cơ chế tài chính cho chuyển đổi xanh. Ngân hàng, doanh nghiệp cung cấp thiết bị, doanh nghiệp chế biến và người nuôi có thể cùng tham gia. Những mô hình chứng minh được khả năng tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sản xuất cần được tiếp cận tín dụng xanh với chi phí vốn phù hợp hơn.

“Ví dụ, thay vì một hộ nuôi phải bỏ toàn bộ vốn để lắp điện mặt trời, doanh nghiệp cung cấp thiết bị có thể đầu tư, hộ nuôi trả dần từ phần chi phí điện tiết kiệm được. Cách làm này giảm áp lực vốn ban đầu và tạo điều kiện nhân rộng mô hình”, ông Trần Hữu Hiệp gợi ý.

Vị chuyên gia bổ sung, trong mối quan hệ này, vai trò trung gian của ngân hàng rất quan trọng. Các doanh nghiệp cung cấp thiết bị có thể vay vốn ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất, nông hộ thông qua ngân hàng để tiếp cận sản phẩm chất lượng cao, giá cả phải chăng từ doanh nghiệp.

“Từ trước đến nay, các bên liên quan trong chuỗi ngành hàng luôn bị chặt khúc, tạo ra các mối quan hệ mua – bán riêng lẻ theo từng hợp đồng mà thiếu liên kết bền chặt dựa trên niềm tin dài hạn. Nếu khắc phục được điểm này, các nông hộ, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thêm động lực và điều kiện triển khai các dự án chuyển đổi xanh”, nguyên Ủy viên Chuyên trách, Vụ trưởng Vụ Kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ khuyến nghị.

 

Chuyển đổi xanh đang chuyển từ lợi thế cộng thêm thành điều kiện ngày càng quan trọng để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Quả thật, Việt Nam đã có những mô hình sản xuất tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và nuôi trồng theo tiêu chuẩn bền vững. Tuy vậy, TS Trần Hữu Hiệp cho rằng, vẫn cần chuyển từ những mô hình riêng lẻ sang một hệ sinh thái sản xuất xanh có khả năng đo lường và chứng minh được.

Chẳng hạn, một doanh nghiệp xuất khẩu tôm phải chứng minh được lượng điện tái tạo sử dụng, mức giảm phát thải trong quá trình nuôi, chế biến và logistics sẽ có thêm cơ sở để đáp ứng yêu cầu của những thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng tiêu chí carbon.

“Về mặt chính sách, cần có hệ thống đo lường, cơ sở dữ liệu và tiêu chuẩn thống nhất, đồng thời có tín dụng xanh, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ công nghệ cho doanh nghiệp, hợp tác xã và nông hộ.

Trên hết, chuyển đổi xanh không nên được nhìn như một khoản chi phí bắt buộc. Nếu làm đúng, đó là khoản đầu tư để giảm chi phí sản xuất, nâng chất lượng sản phẩm và giữ cửa thị trường xuất khẩu cho thủy sản Việt Nam”, TS Trần Hữu Hiệp khẳng định.