TIỀM NĂNG CÁ RÔ PHI

Cá rô phi là đối tượng nuôi thủy sản có tiềm năng phát triển, phù hợp với điều kiện sinh thái của Việt Nam, có khả năng mở rộng sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Giai đoạn 2015 – 2025, diện tích nuôi cá rô phi tăng từ 25,7 nghìn ha lên 42 nghìn ha; sản lượng tăng từ 187,8 nghìn tấn lên 420 nghìn tấn, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8,4%/năm.

Kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam cũng tăng nhanh trong những năm gần đây, từ khoảng 17 triệu USD năm 2023 lên 41 triệu USD năm 2024 và đạt 99,3 triệu USD năm 2025. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 53 triệu USD năm 2025; Brazil đạt 11 triệu USD, tăng trên 70 lần so với năm 2024. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cá rô phi sang Brazil đạt khoảng 41 triệu USD, chiếm 54,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam, đưa Brazil trở thành một trong những thị trường trọng điểm của ngành hàng cá rô phi Việt Nam.

RÀO CẢN THƯƠNG MẠI

Sự tăng trưởng nhanh của ngành cá rô phi mở ra nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, song đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải đáp ứng ngày càng cao các quy định kỹ thuật và kiểm dịch của các nước nhập khẩu.

Cùng với xu hướng hội nhập sâu rộng, thị trường thủy sản toàn cầu đang chuyển dịch từ việc áp dụng hàng rào thuế quan sang tăng cường các biện pháp quản lý kỹ thuật. Nếu trước đây chất lượng thành phẩm là tiêu chí đánh giá chủ yếu thì hiện nay, nhiều quốc gia yêu cầu kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất, từ con giống, cơ sở/vùng nuôi, điều kiện nuôi, an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh đến khả năng truy xuất nguồn gốc của từng lô hàng.







Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân báo cáo tại cuộc họp do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức ngày 2/7 về tình hình sản xuất, xuất khẩu cá rô phi và các giải pháp ứng phó với diễn biến chính sách mới của thị trường Brazil.

Xu hướng này phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh xuyên biên giới. Đối với sản phẩm thủy sản nuôi, đặc biệt là cá rô phi, việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật không chỉ là điều kiện để hàng hóa được thông quan mà còn là yếu tố quyết định khả năng duy trì thị trường xuất khẩu trong dài hạn.

Trong số các thị trường nhập khẩu, Brazil đang trở thành điểm đến quan trọng của cá rô phi Việt Nam. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, dư địa tại thị trường này còn rất lớn. Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về kiểm dịch động vật thủy sản và kiểm soát dịch bệnh.

Tháng 12/2025, trên cơ sở đánh giá rủi ro nhập khẩu đối với sản phẩm cá rô phi và các quan ngại được nêu từ phía ngành sản xuất thủy sản trong nước Brazil liên quan đến nguy cơ xâm nhập TiLV, Cơ quan Thú y (DSA) thuộc Bộ Nông nghiệp và Chăn nuôi Brazil (MAPA) đã ban hành Quy định số RIG.PJ.DP.AQUA.EX.AH.DEZ.25 (có hiệu lực từ ngày 16/12/2025) cập nhật yêu cầu về chứng nhận an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh trong chứng thư cấp cho các lô hàng thủy sản xuất khẩu vào Brazil. Theo đó, đối với một số nhóm sản phẩm cá rô phi, quy định yêu cầu sản phẩm phải có nguồn gốc từ quốc gia, khu vực hoặc vùng lãnh thổ được tuyên bố/báo cáo không có TiLV theo quy định của Tổ chức Thú y thế giới (WOAH), hoặc lô hàng phải được lấy mẫu, xét nghiệm TiLV theo phương pháp, quy trình được Cơ quan Thú y Brazil chấp thuận.

Đồng thời, tại cấp bang, một số địa phương của Brazil đã ban hành hoặc xem xét các biện pháp riêng đối với cá rô phi nhập khẩu, gồm hạn chế lưu thông, thương mại hóa, kinh doanh, phân phối, lưu kho, chế biến hoặc điều chỉnh thuế đối với sản phẩm nhập khẩu. Theo thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại một số bang của Brazil đã xuất hiện các biện pháp hoặc động thái kiểm soát, hạn chế đối với cá rô phi nhập khẩu.

Mặc dù các biện pháp này còn phải trải qua nhiều bước xem xét trước khi có hiệu lực đầy đủ, nhưng đây là tín hiệu cho thấy các yêu cầu kỹ thuật đối với cá rô phi nhập khẩu sẽ tiếp tục được siết chặt trong thời gian tới. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu phải chủ động thích ứng thay vì chờ đến khi thị trường áp dụng các quy định mới.

Trong bối cảnh đó, kiểm soát hiệu quả virus TiLV và bảo đảm truy xuất nguồn gốc được xem là hai yêu cầu then chốt để đáp ứng các quy định của nước nhập khẩu. Đây không chỉ là điều kiện phục vụ công tác kiểm dịch, cấp chứng nhận hay thông quan hàng hóa mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch của chuỗi sản xuất, củng cố niềm tin của nhà nhập khẩu và người tiêu dùng. Về lâu dài, việc chủ động đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật quốc tế sẽ giúp ngành cá rô phi Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển theo hướng bền vững.

KIỂM SOÁT VIRUS TILV TRONG HỆ THỐNG NUÔI

TiLV hiện được nhiều quốc gia ghi nhận là một trong những tác nhân gây bệnh đáng quan ngại đối với cá rô phi nuôi thương phẩm. Sự xuất hiện và lây lan của mầm bệnh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế, mà còn có thể trở thành yếu tố rủi ro trong kiểm dịch, làm phát sinh các rào cản kỹ thuật đối với hoạt động xuất khẩu.

Hiện nay, các bệnh do virus gây ra trên thủy sản chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Do đó, hướng tiếp cận hiệu quả nhất vẫn là phòng ngừa từ sớm thông qua việc thiết lập hệ thống an toàn sinh học đồng bộ, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và duy trì môi trường nuôi ổn định trong suốt chu kỳ sản xuất.

Quản lý chặt chẽ quy trình sản xuất giúp nâng cao chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc

Theo khuyến cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, đối với các cơ sở nuôi cá bố mẹ, nguồn nước sử dụng trong sinh sản phải được xử lý đạt yêu cầu kỹ thuật, hạn chế tối đa nguy cơ mang mầm bệnh. Cá bố mẹ đưa vào khai thác phải có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, không biểu hiện dấu hiệu bất thường và đáp ứng quy định hiện hành về quản lý giống cũng như kiểm dịch.

Thức ăn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì sức khỏe đàn cá. Nguyên liệu sử dụng phải bảo đảm an toàn sinh học, không mang tác nhân gây bệnh. Với thức ăn tươi sống, quy trình xử lý trước khi cho ăn cần được thực hiện nghiêm ngặt nhằm giảm thiểu nguy cơ truyền lây. Đối với thức ăn công nghiệp, yêu cầu bảo quản đúng điều kiện, tránh ẩm mốc, suy giảm chất lượng hoặc nhiễm khuẩn trong quá trình lưu trữ.

Song song đó, việc sử dụng thuốc thú y thủy sản, chế phẩm sinh học và sản phẩm xử lý môi trường phải tuân thủ đúng danh mục được phép lưu hành, đồng thời thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn và nhà sản xuất, tránh lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích.

Ở khâu sản xuất giống, nguy cơ lây nhiễm chéo giữa các bể, giữa các lứa ương được đánh giá là một trong những yếu tố rủi ro lớn đối với sự an toàn của toàn bộ hệ thống. Vì vậy, việc vệ sinh, tiêu độc khử trùng bể đẻ và bể ương trước – sau mỗi vụ được xem là yêu cầu bắt buộc.

Dụng cụ phục vụ sản xuất cần được phân tách theo từng khu vực, từng bể sử dụng riêng biệt và tiến hành khử trùng ngay sau khi sử dụng. Quy trình kiểm soát người ra vào, phương tiện vận chuyển và các yếu tố trung gian cũng phải được thiết lập chặt chẽ nhằm hạn chế tối đa nguy cơ xâm nhập mầm bệnh từ bên ngoài.

Ngoài ra, các đối tượng sinh vật trung gian như chim ăn cá hoặc các loài có khả năng mang mầm bệnh từ môi trường tự nhiên vào khu vực sản xuất cũng cần được kiểm soát bằng biện pháp phù hợp, góp phần duy trì an toàn sinh học tổng thể.

 

Đối với nuôi thương phẩm, việc lựa chọn con giống chất lượng cao, có nguồn gốc rõ ràng và đã qua kiểm dịch là yếu tố đầu tiên quyết định mức độ an toàn của cả chu kỳ nuôi. Mật độ thả cần được tính toán phù hợp với điều kiện ao nuôi, khả năng chịu tải môi trường và hệ thống quản lý kỹ thuật.

Trong quá trình nuôi, duy trì chất lượng nước ổn định, kết hợp vệ sinh định kỳ khu vực ao và dụng cụ sử dụng giúp hạn chế sự tích tụ mầm bệnh. Bên cạnh đó, cần sử dụng lượng thức ăn phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng, tránh dư thừa gây ô nhiễm môi trường nước.

Người nuôi cần theo dõi sức khỏe đàn cá hằng ngày, kịp thời phát hiện các biểu hiện bất thường như giảm ăn, bơi lội không bình thường hoặc hiện tượng chết rải rác kéo dài. Khi xuất hiện dấu hiệu nghi ngờ, việc thông báo sớm cho cơ quan chuyên môn để được kiểm tra và hướng dẫn xử lý là hết sức cần thiết, nhằm hạn chế nguy cơ lan rộng trong cơ sở/vùng nuôi.

Trong hệ thống nuôi lồng bè, khu vực nuôi cần bảo đảm dòng chảy thông thoáng, khoảng cách giữa các lồng được bố trí hợp lý để tránh hiện tượng tích tụ chất thải và giảm nguy cơ lây lan mầm bệnh giữa các đơn vị nuôi.

Dụng cụ sử dụng trong nuôi lồng phải được phân tách theo từng lồng, từng bè và thực hiện vệ sinh, khử trùng sau mỗi lần sử dụng. Chất thải, cá chết hoặc cá bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng các biện pháp phù hợp như vôi hoặc hóa chất được phép sử dụng trong nuôi trồng, tuân thủ hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.

Để xử lý môi trường nước, tăng sức đề kháng cho thủy sản, cơ sở nuôi chỉ được sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép và theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản hoặc thú y. Ngừng sử dụng trước khi thu hoạch theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

MINH BẠCH CHUỖI SẢN XUẤT

Nếu việc phòng, chống dịch bệnh góp phần tạo ra đàn cá khỏe mạnh, hạn chế thiệt hại trong quá trình nuôi thì hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ là căn cứ chứng minh toàn bộ quy trình sản xuất được thực hiện theo đúng quy định, đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý và thị trường nhập khẩu.

Để chủ động phòng ngừa rủi ro, ổn định sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu cá rô phi, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức phổ biến, hướng dẫn các cơ sở sản xuất giống, cơ sở nuôi, cơ sở thu mua, sơ chế, chế biến, xuất khẩu cá rô phi trên địa bàn thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý giống thủy sản, điều kiện nuôi trồng thủy sản, phòng chống dịch bệnh động vật thủy sản, an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; tham khảo, áp dụng phù hợp các biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên cá rô phi theo Hướng dẫn của Cục Thủy sản và Kiểm ngư ban hành kèm theo Quyết định số 172/QĐ-TSKN ngày 16/4/2026.

Chỉ đạo cơ quan chuyên môn trực thuộc tăng cường quản lý chất lượng giống cá rô phi; kiểm soát nguồn gốc cá giống đưa vào sản xuất; hướng dẫn cơ sở sản xuất, ương dưỡng, kinh doanh giống thực hiện ghi chép, lưu giữ hồ sơ nguồn gốc, hồ sơ mua bán, vận chuyển giống và các thông tin có liên quan. Không sử dụng, vận chuyển, kinh doanh cá giống không rõ nguồn gốc, chưa qua kiểm dịch theo quy định.

Đồng thời, hướng dẫn các cơ sở nuôi, cơ sở chế biến, xuất khẩu cá rô phi chuẩn bị và lưu giữ đầy đủ hồ sơ kỹ thuật phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, tối thiểu gồm: nguồn gốc giống; cơ sở/vùng nuôi; nhật ký nuôi; tình hình quản lý sức khỏe thủy sản; kết quả giám sát, xét nghiệm dịch bệnh khi có yêu cầu; hồ sơ thu hoạch, vận chuyển; hồ sơ cơ sở cung cấp nguyên liệu; hồ sơ truy xuất nguồn gốc và các chứng nhận có liên quan.

Đối với các cơ sở sản xuất giống, nuôi thương phẩm, thu mua, chế biến và xuất khẩu cần xây dựng, duy trì và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Thông tin ghi nhận bao gồm con giống, cơ sở/vùng nuôi, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, hóa chất, chế phẩm xử lý môi trường, quá trình nuôi, thu hoạch, vận chuyển, chế biến đến xuất khẩu. Dữ liệu phải được lưu trữ đầy đủ, khoa học và sẵn sàng cung cấp khi cơ quan có thẩm quyền trong nước hoặc nước nhập khẩu yêu cầu.

Sản phẩm cá rô phi xuất khẩu cần đáp ứng yêu cầu về an toàn dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc

Cùng với đó, cần chủ động thực hiện hoặc phối hợp thực hiện giám sát, lấy mẫu xét nghiệm các chỉ tiêu dịch bệnh theo yêu cầu của nước nhập khẩu đối với từng lô hàng, từng nhóm sản phẩm; lưu giữ kết quả xét nghiệm, hồ sơ lấy mẫu, thông tin cơ sở/vùng nuôi, lô nguyên liệu và lô hàng xuất khẩu theo quy định.

Khi phát sinh yêu cầu cụ thể liên quan đến TiLV chủ động liên hệ với Cục Chăn nuôi và Thú y để được hướng dẫn về phương pháp lấy mẫu, xét nghiệm và lựa chọn phòng thử nghiệm phù hợp với yêu cầu của nước nhập khẩu.

Kim Tiến

Tài liệu tham khảo:

– Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên cá rô phi (Ban hành kèm theo Quyết định số 172/QĐ-TSKN ngày 16 tháng 04 năm 2026).

– Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Công văn số 2081/TSKN-BTS ngày 15 tháng 06 năm 2026 về việc triển khai các biện pháp quản lý và chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật đối với cá rô phi phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang thị trường Brazil.