(TSVN) – Việc triển khai Đề án phát triển thủy sản bền vững tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2050 được kỳ vọng tạo bước chuyển quan trọng trong tái cơ cấu ngành thủy sản của địa phương. Đề án đặt trọng tâm giảm áp lực khai thác, phát triển mạnh nuôi trồng, bảo vệ nguồn lợi và xây dựng chuỗi giá trị thủy sản hiện đại, thân thiện với môi trường.
UBND tỉnh Gia Lai vừa phê duyệt Đề án phát triển thủy sản bền vững giai đoạn 2026 – 2030, định hướng đến năm 2050. Đề án nhằm tái cơ cấu toàn diện ngành thủy sản theo hướng hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh tế, đồng thời đảm bảo hài hòa giữa phát triển sản xuất và bảo vệ hệ sinh thái biển.
Theo định hướng này, cơ cấu ngành thủy sản của tỉnh sẽ chuyển dịch mạnh từ khai thác sang nuôi trồng, kết hợp ứng dụng khoa học – công nghệ và tăng cường quản lý nguồn lợi.
Tỉnh định hướng phát triển khoảng 3.400 lồng bè công nghệ cao tại các hồ chứa lớn phía Tây. Ảnh: Báo Dân việt
Trong chiến lược phát triển mới, lĩnh vực nuôi trồng thủy sản được xác định là động lực tăng trưởng chính. Đến năm 2030, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh dự kiến đạt khoảng 8.400 ha, với sản lượng khoảng 46.500 tấn, tăng thêm 20.000 tấn so năm 2025.
Nuôi biển được ưu tiên phát triển theo mô hình lồng HDPE kết hợp các công nghệ giám sát và quản lý bằng trí tuệ nhân tạo, hướng tới sản lượng khoảng 8.000 tấn mỗi năm.
Đối với nuôi nước ngọt, tỉnh định hướng phát triển khoảng 3.400 lồng bè công nghệ cao tại các hồ chứa lớn phía Tây như Ia Ly, Sê San 4 và Ka Nak, tận dụng lợi thế diện tích mặt nước rộng và điều kiện sinh thái phù hợp.
Trong khi đó, nuôi nước lợ sẽ tập trung hình thành chuỗi giá trị tôm thẻ chân trắng ứng dụng các công nghệ tiên tiến như Biofloc và RAS tại các địa bàn ven biển, góp phần nâng cao năng suất, kiểm soát môi trường nuôi và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu.
Khai thác thủy sản vẫn giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế biển của tỉnh, song sẽ được tổ chức lại theo hướng giảm quy mô và nâng cao chất lượng. Hiện toàn tỉnh có 5.748 tàu cá, trong đó tàu khai thác vùng bờ chiếm tỷ lệ lớn, hiệu quả thấp và gây áp lực đáng kể lên nguồn lợi ven biển. Theo lộ trình của Đề án, đến năm 2030 số lượng tàu cá sẽ giảm còn khoảng 3.800 chiếc. Trong đó, tỉnh ưu tiên phát triển đội tàu khai thác xa bờ với 2.815 tàu; tàu vùng lộng giảm còn 465 chiếc và tàu vùng bờ chỉ còn khoảng 520 chiếc.
Sản lượng khai thác dự kiến đạt khoảng 250.000 tấn, trong đó 60 – 70% sản lượng được khai thác bằng các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển.
Cùng với việc cắt giảm đội tàu, tỉnh sẽ triển khai các chính sách chuyển đổi nghề, giải bản những tàu cá không còn phù hợp. Đồng thời, việc sắp xếp, di dời tàu thuyền đang neo đậu tại cảng cá Quy Nhơn và khu vực đầm Đề Gi về cảng cá Tam Quan cũng được thực hiện nhằm tập trung hoạt động khai thác tại một cảng lớn, hiện đại.
Đặc biệt, công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái biển được đặt lên hàng đầu. Theo kế hoạch, tỉnh sẽ thành lập và đưa vào vận hành Khu bảo tồn biển vịnh Quy Nhơn với diện tích khoảng 6.500 ha. Bên cạnh đó, bảy khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản sẽ được tổ chức quản lý tại các khu vực trọng điểm ven biển, đầm và vịnh. Các khu vực cấm khai thác có thời hạn cũng sẽ được thiết lập tại đầm Thị Nại, đầm Đề Gi và đầm Trà Ổ nhằm tạo điều kiện cho các quần đàn thủy sinh phục hồi tự nhiên.
Ngoài ra, tỉnh tiếp tục tăng cường bảo vệ rừng ngập mặn, bảo tồn các loài sinh vật biển quý hiếm và áp dụng hạn ngạch khai thác theo nghề, theo vùng biển. Những giải pháp này góp phần cân bằng hệ sinh thái, đảm bảo phát triển kinh tế biển lâu dài và bền vững.
Lê Loan