Nâng cao chất lượng tôm giống

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Tôm nước lợ tiếp tục giữ vai trò ngành hàng xuất khẩu chủ lực của thủy sản Việt Nam. Để duy trì đà tăng trưởng trong bối cảnh nhiều thách thức, việc nâng cao chất lượng giống đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Ngành tôm duy trì đà tăng trưởng

Trong nhiều năm qua, tôm nước lợ luôn giữ vai trò là một trong những ngành hàng quan trọng nhất của thủy sản Việt Nam. Phát biểu tại Hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam”, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, đến năm 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước ước đạt khoảng 750.000 ha, sản lượng đạt khoảng 1,29 triệu tấn.

Điều đáng chú ý là trong bối cảnh quỹ đất nuôi ngày càng hạn chế, diện tích nuôi gần như không tăng so những năm trước, sản lượng vẫn duy trì đà tăng trưởng ổn định. Kết quả này phản ánh rõ nét quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng nâng cao năng suất và hiệu quả thay vì mở rộng diện tích.

Cơ sở sản xuất cần thực hiện nghiêm quy định về an toàn sinh học và kiểm soát chất lượng giống. Ảnh: Green Tech

Nhiều địa phương đã chuyển mạnh từ các mô hình quảng canh truyền thống sang quảng canh cải tiến, tôm – lúa, tôm – rừng kết hợp với các hình thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao. Việc áp dụng các giải pháp tự động hóa, quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh và quản lý dinh dưỡng đã góp phần nâng cao năng suất, giảm rủi ro và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sản xuất.

Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Theo số liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, lũy kế 5 tháng đầu năm, diện tích nuôi tôm nước lợ đạt hơn 658.759 ha, tăng 2,6% so cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch ước đạt 447.752 tấn, tăng 17,8%; kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD.

Giống là mắt xích hàng đầu

Để duy trì tốc độ tăng trưởng trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, chi phí đầu vào gia tăng và các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc, ngành tôm cần tiếp tục củng cố những yếu tố nền tảng của sản xuất. Trong đó, chất lượng con giống được xem là mắt xích quan trọng hàng đầu.

Các chuyên gia cho rằng, con giống là yếu tố quyết định thành công của vụ nuôi. Giống sạch bệnh, đồng đều về kích cỡ, có nguồn gốc rõ ràng và phù hợp với điều kiện nuôi sẽ giúp nâng cao tỷ lệ sống, giảm chi phí sản xuất, hạn chế sử dụng thuốc và hóa chất, đồng thời tăng khả năng chống chịu với các biến động môi trường.

Ngược lại, nếu sử dụng giống không rõ nguồn gốc hoặc chất lượng không bảo đảm, người nuôi có thể đối mặt với nguy cơ dịch bệnh, hao hụt cao và thiệt hại kinh tế ngay từ những tháng đầu của vụ nuôi.

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, đến năm 2025, cả nước có 1.910 cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống tôm nước lợ, cung ứng khoảng 167,58 tỷ con giống ra thị trường, tăng 16% so năm 2021. Nguồn cung này cơ bản đáp ứng nhu cầu nuôi thương phẩm trong nước và một phần phục vụ xuất khẩu.

Đáng chú ý, sản lượng giống tiếp tục tăng trong khi số lượng cơ sở sản xuất có xu hướng giảm. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất đang từng bước tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn, có điều kiện đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh và quản lý chất lượng.

Nhiều điểm nghẽn

Dù năng lực sản xuất giống đã có nhiều cải thiện, chất lượng giống trên thị trường vẫn chưa thực sự đồng đều. Trong khi nhiều doanh nghiệp đã đầu tư bài bản về cơ sở hạ tầng, quản lý đàn bố mẹ, xét nghiệm mầm bệnh và truy xuất nguồn gốc, không ít cơ sở nhỏ lẻ, cơ sở ương dưỡng hoặc điểm trung chuyển vẫn còn hạn chế về điều kiện kỹ thuật và năng lực kiểm soát chất lượng.

Đặc biệt, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nguồn tôm bố mẹ. Dù đã có nhiều chương trình nghiên cứu và chọn tạo giống trong nước, năng lực gia hóa và sản xuất tôm bố mẹ nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vì vậy, ngành tôm vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu.

Sự phụ thuộc này không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro liên quan đến nguồn cung, giá cả, kiểm dịch và nguy cơ xâm nhập mầm bệnh.

Ở khâu sử dụng giống, việc lựa chọn của người nuôi tại nhiều địa phương vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, giá bán hoặc mối quan hệ thương mại. Các thông tin quan trọng như hồ sơ kỹ thuật, kết quả xét nghiệm, nguồn gốc đàn bố mẹ hay lịch sử chất lượng của cơ sở cung ứng chưa được quan tâm đúng mức. Điều này làm gia tăng nguy cơ sử dụng giống không bảo đảm chất lượng hoặc không phù hợp với điều kiện nuôi thực tế.

Bên cạnh đó, hệ thống quản lý và truy xuất nguồn gốc giống vẫn còn nhiều bất cập. Dữ liệu về cơ sở sản xuất, đàn bố mẹ, lô giống, kiểm dịch, xét nghiệm, vận chuyển và tiêu thụ hiện còn phân tán; việc áp dụng mã số cơ sở, mã đàn bố mẹ, mã lô giống và hồ sơ điện tử chưa được thực hiện đồng bộ.

Khi xảy ra dịch bệnh hoặc thiệt hại sau thả nuôi, việc truy xuất ngược từ ao nuôi về cơ sở sản xuất, cơ sở ương dưỡng hay đàn bố mẹ còn gặp nhiều khó khăn. Đây là hạn chế lớn trong công tác quản lý rủi ro, nhất là khi con giống thường được vận chuyển qua nhiều khâu trung gian trước khi đến các vùng nuôi thương phẩm.

Cùng với truy xuất nguồn gốc, an toàn dịch bệnh cũng là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa. Đến năm 2025, cả nước mới có 83 cơ sở sản xuất giống được chứng nhận an toàn dịch bệnh, một con số còn khá khiêm tốn so với tổng số khoảng 1.910 cơ sở sản xuất và ương dưỡng giống hiện nay.

Nâng chất lượng giống từ gốc

Trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, nâng cao chất lượng giống đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với toàn chuỗi ngành hàng tôm. Thời gian qua, nhiều kết quả nghiên cứu về chọn giống, công nghệ sinh học và kiểm soát dịch bệnh đã được ứng dụng vào sản xuất, góp phần cải thiện chất lượng tôm giống. Tuy nhiên, mức độ đầu tư cho nghiên cứu và phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của ngành.

Để tạo bước đột phá, cần tiếp tục đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong chọn tạo giống, xét nghiệm dịch bệnh và quản lý chất lượng. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, tăng cường liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học nhằm hình thành các chuỗi sản xuất giống chất lượng cao.

Theo ông Trần Đình Luân, các cơ sở sản xuất giống cần chủ động minh bạch thông tin về nguồn gốc, công suất sản xuất, hồ sơ tôm bố mẹ và quy trình vận hành; đồng thời thực hiện nghiêm các quy định về an toàn sinh học và kiểm soát chất lượng giống.

Việc chia sẻ dữ liệu với cơ quan quản lý không chỉ giúp nâng cao hiệu quả giám sát mà còn tạo cơ sở để kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm, bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn bài bản và nâng cao uy tín chung của ngành tôm Việt Nam.

Bên cạnh đó, việc sử dụng giống sạch bệnh, tăng cường an toàn sinh học và chủ động phòng bệnh ngay từ đầu vụ là giải pháp nền tảng để giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững ngành tôm.

Con giống chất lượng giúp nâng cao tỷ lệ sống, giảm rủi ro dịch bệnh và tăng hiệu quả sản xuất. Phát triển hệ thống giống sạch bệnh, an toàn sinh học và truy xuất nguồn gốc đầy đủ là điều kiện quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của ngành tôm.

Thanh Hiếu

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!