(TSVN) – Việc trao quyền cho người dân tham gia quan trắc môi trường và quản lý chất thải đang cho thấy, hiệu quả tích cực trong giảm ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Dữ liệu thực tế từ các vùng nuôi giúp người dân nhận diện sớm nguy cơ, điều chỉnh sản xuất và từng bước hình thành thói quen bảo vệ môi trường ngay tại cơ sở.
Theo báo cáo tại Hội thảo “Tăng cường quản lý chất thải rắn trong nuôi trồng thủy sản vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, do Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ phối hợp với Văn phòng Đại diện ActionAid Quốc tế tại Việt Nam tổ chức, việc người dân trực tiếp quan trắc, quản lý chất thải đã và đang góp phần cải thiện chất lượng nước nuôi thủy sản.
Hội thảo nằm trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực chuyển đổi năng lượng tái tạo và quản lý chất thải vì sự bền vững môi trường tại Đồng bằng sông Cửu Long” (Dự án K1), do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) và Quỹ Chorog Usan đồng tài trợ, ActionAid Việt Nam cùng các đối tác triển khai tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Cà Mau giai đoạn 2024-2026.
Tại hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi về thực trạng quản lý chất thải rắn trong nuôi trồng thủy sản, các mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng và giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong ngành thủy sản.
Các đại biểu tham dự Hội thảo ngày 12/8 tại Cần Thơ. Ảnh: VOV
Kết quả đánh giá chất lượng nước và lượng chất thải rắn phát sinh trong nuôi trồng thủy sản thuộc Dự án K1 tại 6 xã gồm Khánh Hòa (thành phố Cần Thơ), Đông Hải, Long Điền, Gành Hào, An Trạch và Định Thành (tỉnh Cà Mau) cho thấy, sự tham gia chủ động của cộng đồng đã tạo chuyển biến rõ rệt đối với môi trường nuôi.
Sau 3 vụ nuôi, chất lượng nước tại các khu vực triển khai có sự cải thiện đáng kể. Tại Cần Thơ, hàm lượng BOD₅ giảm 59%, trong khi COD giảm 54%. Tại Cà Mau, hai chỉ số này lần lượt giảm 63% và 53%.
Các chỉ số BOD₅ và COD giảm, lượng chất hữu cơ trong môi trường nước nuôi đã được kiểm soát tốt hơn, qua đó góp phần hạn chế nguy cơ tích tụ chất hữu cơ trong bùn đáy ao và giảm áp lực ô nhiễm.
Để có được những kết quả này, người dân cùng các Nhóm Tự giám sát Môi trường được tập huấn kỹ năng lấy mẫu, ghi nhận dữ liệu và đọc hiểu kết quả quan trắc. Từ những thông tin thu thập được, người dân trao đổi với chuyên gia để phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng và lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất.
Ảnh minh họa.
Theo bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ, nghiên cứu đã cung cấp nguồn dữ liệu tại chỗ, giúp nhận diện các nguồn gây ô nhiễm và lựa chọn giải pháp phù hợp với thực tế. Bà Bình cho biết, Cần Thơ sẽ ưu tiên duy trì quan trắc định kỳ, kiểm soát sự tích tụ dinh dưỡng, quản lý bùn thải và tăng cường phối hợp giữa chính quyền, cơ quan chuyên môn, hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân. Mục tiêu là đưa bảo vệ môi trường trở thành một bộ phận của quy trình sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh và tính bền vững của ngành thủy sản.
Thực tế, khi người nuôi được trang bị kiến thức và trực tiếp tham gia theo dõi môi trường, việc phát hiện, kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm có thể được thực hiện sát thực tế hơn. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp để giảm chất thải, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và từng bước thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản.
Các kết quả từ Dự án K1 đồng thời mở ra hướng xây dựng ngành thủy sản theo hướng phát thải thấp, tăng cường sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo từ nguồn chất thải và nâng cao chất lượng môi trường sống cho cộng đồng tại ĐBSCL.
Nguyệt An