Nuôi cá tầm bằng hệ thống nước chảy ở vùng cao Gia Lai

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Giữa vùng núi có khí hậu mát mẻ và dòng nước suối đầu nguồn quanh năm, anh Nguyễn Văn Đạt lựa chọn cá tầm làm đối tượng sản xuất tại xã Đăk Roong (Gia Lai). Trang trại được đầu tư theo hệ thống ao nước chảy, duy trì sản lượng hàng chục tấn mỗi năm.

Cá tầm là đối tượng thủy sản nước lạnh có giá trị kinh tế, song đòi hỏi môi trường nuôi tương đối khắt khe. Nhiệt độ nước thích hợp thường dao động khoảng 19 – 24°C, cùng nguồn nước sạch, hàm lượng ôxy hòa tan cao và lưu thông thường xuyên. Đây cũng là những điều kiện thuận lợi ở vùng cao Đăk Roong, địa bàn giáp ranh Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, có khí hậu mát mẻ và hệ thống suối đầu nguồn.

Tận dụng lợi thế này, một số hộ dân đã lựa chọn nuôi cá tầm trong hệ thống ao, bể xây kiên cố, dẫn nước tự nhiên qua kênh về khu nuôi. Dòng nước được duy trì lưu thông liên tục, góp phần cung cấp ôxy và cuốn trôi chất thải, hạn chế tích tụ trong quá trình nuôi.

Một trong những hộ tiên phong theo hướng này là anh Nguyễn Văn Đạt. Năm 2023, anh cùng ba người bạn góp vốn hơn 10 tỷ đồng xây dựng trang trại tại khu vực xã Kon Pne, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai trước đây (nay thuộc xã Đăk Roong).

Hệ thống bể xây kiên cố, dẫn nước tự nhiên qua kênh về khu nuôi. Ảnh: Nhà báo và Công luận

Theo thông tin từ báo chí, trang trại được bố trí 25 ao, mỗi ao rộng khoảng 160 m², sức thả từ 1.600 – 1.700 con. Để cấp nước cho khu nuôi, nhóm đầu tư hệ thống kênh dẫn từ khu vực đầu nguồn Vườn quốc gia Kon Ka Kinh về các ao, duy trì dòng chảy thường xuyên.

Lứa cá đầu tiên được thả vào cuối năm 2023. Sau đó, các lứa tiếp theo được bố trí cách nhau 3 – 4 tháng nhằm duy trì nguồn cá thu hoạch và cung ứng cho thị trường. Với thời gian nuôi khoảng 12 tháng, cá đạt trọng lượng 1,8 – 2 kg/con có thể xuất bán. Hiện trang trại đạt sản lượng khoảng 60 tấn cá thương phẩm mỗi năm, giá bán dao động 130.000 – 150.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận ước đạt 2 – 2,5 tỷ đồng/năm.

So với hình thức nuôi lồng bè trên hồ chứa, hệ thống ao nước chảy cho phép bố trí khu nuôi theo từng ao, thuận tiện hơn trong theo dõi, chăm sóc và vệ sinh công trình. Tuy vậy, phương thức này phụ thuộc trực tiếp vào lưu lượng và chất lượng nguồn nước cấp, nhất là khi thời tiết biến động.

Vào mùa mưa, nước suối có thể đục do bùn đất, rác và vật chất từ thượng nguồn cuốn về. Tình trạng này không chỉ gây tắc nghẽn đường ống dẫn mà còn làm thay đổi chất lượng nước trong ao. Nếu không phát hiện kịp thời, cá có thể bị ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng bắt mồi và tăng trưởng.

Ngoài rủi ro môi trường, người nuôi còn chịu sức ép từ giá cá tầm nhập khẩu, chi phí vận chuyển từ vùng cao đến thị trường tiêu thụ và khả năng tiếp cận vốn đầu tư. Đây là những vấn đề cần tính đến khi phát triển thêm cơ sở nuôi, tránh mở rộng quy mô vượt quá khả năng kiểm soát nguồn nước và tiêu thụ sản phẩm.

Trước thực tế đó, chính quyền xã Đăk Roong định hướng hỗ trợ người dân thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời khuyến khích hình thành liên kết giữa hộ nuôi và hợp tác xã. Kết nối các khâu sản xuất, thu hoạch và tiêu thụ sẽ góp phần ổn định đầu ra, giảm áp lực thị trường cho từng cơ sở.

Lợi thế khí hậu và nguồn nước là điều kiện ban đầu để phát triển cá tầm ở Đăk Roong, nhưng chưa đủ để bảo đảm hiệu quả lâu dài. Khả năng duy trì chất lượng nguồn nước qua mùa mưa, kiểm soát quy trình nuôi và tổ chức tiêu thụ phù hợp mới là những yếu tố quyết định khả năng duy trì, nhân rộng mô hình.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!