(TSVN) – Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của Cà Mau trong không gian phát triển mới sau hợp nhất địa giới hành chính. Trong bối cảnh đó, nuôi tôm nước lợ tiếp tục được xác định là trụ cột chiến lược, giữ vai trò then chốt trong tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và phát triển bền vững của tỉnh.
Trong bức tranh phát triển chung của tỉnh, ngành tôm giữ vai trò then chốt không chỉ về quy mô sản xuất mà còn về đóng góp vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với hệ sinh thái mặn – lợ đặc thù, Cà Mau hiện có hơn 435.000 ha nuôi tôm, chiếm khoảng 40% diện tích nuôi tôm cả nước, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế trung tâm nuôi tôm lớn nhất Việt Nam.
Các mô hình nuôi nhà màng, ao lót bạt kết hợp công nghệ tuần hoàn nước và xử lý chất thải khép kín đang được mở rộng. Ảnh: PTC
Không dừng lại ở mở rộng diện tích, ngành tôm Cà Mau đang từng bước chuyển dịch theo chiều sâu, hướng tới phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng. Toàn tỉnh hiện có hơn 37.000 ha nuôi tôm đạt các chứng nhận quốc tế như VietGAP, GlobalGAP, ASC, BAP, Naturland, đáp ứng ngày càng tốt hơn các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường cao cấp.
Các mô hình nuôi tiên tiến tiếp tục được nhân rộng. Đáng chú ý, mô hình nuôi tuần hoàn ít thay nước, an toàn sinh học (RAS – IMTA) đã phát triển lên khoảng 1.500 ha, với năng suất đạt 22 – 25 tấn/ha/vụ. Cơ cấu nuôi cũng chuyển dịch rõ nét, với diện tích thâm canh và siêu thâm canh khoảng 40.000 ha, trong đó siêu thâm canh đạt 13.200 ha.
Công nghệ biofloc được áp dụng phổ biến trong giai đoạn ương tôm (10 – 20 ngày đầu) ở các mô hình thâm canh và siêu thâm canh, góp phần nâng cao tỷ lệ sống, hạn chế bệnh đường ruột, giảm chi phí xử lý môi trường và giúp tăng hiệu quả kinh tế từ 10 – 12% trong giai đoạn ương.
Bên cạnh đó, các mô hình nuôi nhà màng, ao nổi, ao lót bạt kết hợp công nghệ tuần hoàn nước và xử lý chất thải khép kín đang được mở rộng. Thiết kế hệ thống liên hoàn gồm ao nuôi, ao lắng, ao trữ nước và ao xử lý thải giúp kiểm soát môi trường, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh. Nhờ áp dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, tỷ lệ thành công của mô hình nuôi tôm siêu thâm canh đã tăng lên khoảng 70% (so 60% trước đây), còn mô hình thâm canh tăng từ 38% lên 45%.
Song song với các mô hình nuôi công nghệ cao, nuôi tôm sinh thái gắn với bảo vệ rừng ngập mặn tiếp tục được duy trì và mở rộng. Mô hình này không chỉ phù hợp với xu hướng tiêu dùng xanh, mà còn góp phần bảo tồn hệ sinh thái ven biển và nâng cao giá trị thương hiệu tôm Cà Mau trên thị trường quốc tế.
Ngoài ra, Cà Mau đã phối hợp với các viện, trường và doanh nghiệp công nghệ xây dựng hệ thống dữ liệu số hóa toàn ngành. Hệ thống này tích hợp các module quản lý vùng nuôi, quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận sản phẩm. Ứng dụng IoT, camera tự động và hệ thống giám sát trực tuyến được đưa vào vận hành rộng rãi. Đặc biệt, tỉnh đã thí điểm phần mềm “dấu chân carbon” (carbon footprint) nhằm truy xuất phát thải, đáp ứng yêu cầu của các thị trường cao cấp như EU, Nhật Bản và Australia.
Tuy nhiên, ngành tôm Cà Mau vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc. Biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, kéo theo xâm nhập mặn, sạt lở bờ biển và ô nhiễm nguồn nước. Hệ thống hạ tầng thủy lợi, điện và giao thông tại các vùng nuôi chưa theo kịp yêu cầu phát triển; chi phí sản xuất ở mức cao, trong khi liên kết chuỗi giá trị còn lỏng lẻo, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và tính bền vững dài hạn.
Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái định vị ngành tôm trong không gian phát triển mới của tỉnh, gắn tăng trưởng với đổi mới công nghệ, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bước sang năm 2026, Cà Mau xác định tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý con giống, thức ăn, môi trường nuôi và phòng, chống dịch bệnh, hướng tới giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững ngành tôm.
Theo đó, tỉnh sẽ mở rộng diện tích nuôi tôm siêu thâm canh, công nghệ cao; phát triển các vùng nuôi tôm quảng canh cải tiến gắn với các khu, cụm kinh tế động lực và dự án tuyến đường ven biển tại các xã Vĩnh Hậu, Gành Hào, Đông Hải, Long Điền, phường Hiệp Thành,… Đồng thời, xây dựng các vùng nuôi đạt chứng nhận phục vụ xuất khẩu, phấn đấu sản lượng tôm đạt khoảng 624.000 tấn.
Song song đó, Cà Mau tiếp tục mở rộng diện tích mô hình lúa – tôm khoảng 1.000 – 1.500 ha tại các địa phương như Thới Bình, Hồ Thị Kỷ, Lương Thế Trân, Hưng Mỹ và phường Giá Rai, góp phần đa dạng hóa sinh kế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng tính bền vững cho ngành nông nghiệp địa phương.
Phát triển chuỗi giá trị ngành tôm theo hướng khép kín, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu, mở rộng vai trò của hợp tác xã; đồng thời xây dựng và quảng bá thương hiệu “Tôm Cà Mau” gắn với các tiêu chuẩn xanh, tăng cường liên kết với các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước như De Heus, Minh Phú.
Nguyễn Hằng