Chất lượng tôm giống: Yếu tố then chốt

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Chất lượng tôm giống luôn là yếu tố quyết định sự thành công của vụ nuôi. Trong bối cảnh ngành tôm đặt mục tiêu tự chủ nguồn giống và phát triển bền vững, việc nhận diện rõ thách thức và triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng tôm giống là yêu cầu cấp bách hiện nay.

“Nền móng” chuỗi giá trị

Trong chuỗi giá trị ngành tôm, tôm giống được xem là “mắt xích đầu tiên” nhưng có vai trò quyết định đến hiệu quả của toàn bộ quá trình nuôi thương phẩm. Chất lượng tôm giống không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, khả năng kháng bệnh của tôm nuôi mà còn chi phối chi phí sản xuất, năng suất, lợi nhuận và mức độ rủi ro của người nuôi.

Thực tiễn sản xuất đã chứng minh, dù áp dụng mô hình nuôi tiên tiến, đầu tư lớn cho hạ tầng, thức ăn và quản lý môi trường, nhưng nếu con giống không đảm bảo chất lượng thì rủi ro dịch bệnh, tỷ lệ sống thấp và hiệu quả kinh tế kém là điều khó tránh khỏi. Bởi vậy, tôm giống luôn được coi là “nền móng” của chuỗi giá trị ngành tôm.

Theo ông Trần Công Khôi, Trưởng Phòng Giống và Thức ăn thủy sản, Cục Thủy sản và Kiểm ngư, quan điểm “nhất giống, nhì môi, tam mồi, tứ kỹ” đã khẳng định rõ vị trí trung tâm của con giống trong sản xuất tôm nước lợ. Trong các mô hình nuôi thâm canh, siêu thâm canh công nghiệp, tôm giống chất lượng cao là điều kiện tiên quyết, kết hợp với việc kiểm soát tốt các yếu tố môi trường, thức ăn, dịch bệnh và kỹ thuật nuôi để tạo nên thành công của vụ nuôi.

Không chỉ với nuôi thâm canh, vai trò của tôm giống sạch bệnh còn thể hiện rõ ở các mô hình nuôi quảng canh cải tiến, tôm – rừng, tôm – lúa. Trong những mô hình này, mức độ đầu tư đầu vào thấp hơn, ít can thiệp kỹ thuật, do đó con giống khỏe mạnh, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên càng trở nên quan trọng. Việc sử dụng tôm giống chất lượng cao, kết hợp với những cải tiến trong quy trình nuôi đã giúp nhiều địa phương nâng cao tỷ lệ sống, năng suất và chất lượng tôm thương phẩm, qua đó gia tăng hiệu quả kinh tế và tính bền vững của mô hình nuôi.

Những năm gần đây, lĩnh vực sản xuất tôm giống nước lợ ở nước ta đã có bước phát triển đáng kể về quy mô. Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hiện cả nước có khoảng 1.910 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ. Ước tính năm 2025, sản lượng tôm giống sản xuất đạt 167,58 tỷ con, tăng 5,4% so năm 2024; trong đó, TTCT đạt 116,89 tỷ con và tôm sú đạt 50,69 tỷ con.

Bên cạnh đó, nguồn cung tôm bố mẹ cho sản xuất giống cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Năm 2025, sản lượng tôm bố mẹ cung cấp cho sản xuất giống đạt khoảng 189,85 nghìn con, tương đương 100,03% so năm 2024. Đáng chú ý, tỷ lệ tôm bố mẹ được sản xuất trong nước tiếp tục tăng qua các năm, dao động từ 21,3 – 45,1 nghìn con/năm, trong đó năm 2025 ghi nhận mức cao nhất với khoảng 45,1 nghìn con. Điều này cho thấy những nỗ lực ban đầu trong việc giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và từng bước nâng cao tính tự chủ của ngành giống tôm Việt Nam.

Thách thức

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, song ngành sản xuất tôm giống nước lợ vẫn đang đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là vấn đề chủ động nguồn tôm bố mẹ. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn làm chủ được nguồn tôm bố mẹ, nhất là đối với TTCT. Phần lớn TTCT bố mẹ vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Dù các lô tôm bố mẹ nhập khẩu đều được chứng nhận đảm bảo theo quy định, song thực tế cho thấy chất lượng tôm bố mẹ chưa thật sự ổn định. Việc kiểm soát chất lượng từ nước xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, dẫn đến rủi ro về khả năng sinh sản, chất lượng đàn con và nguy cơ mang mầm bệnh tiềm ẩn.

Sản xuất tôm giống trong nước cũng bộc lộ nhiều hạn chế mang tính hệ thống. Các vùng sản xuất giống tập trung, đáp ứng đồng thời yêu cầu về quy mô và an toàn sinh học hiện vẫn còn ít. Nhiều cơ sở sản xuất giống hình thành tự phát, phân tán, xen kẽ với khu dân cư hoặc vùng nuôi thương phẩm, làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh và khó kiểm soát chất lượng. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng tại không ít vùng sản xuất giống đã xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp.

Một vấn đề đáng lo ngại khác là công tác quản lý chất lượng tôm giống trên thị trường chưa đồng bộ. Hiện vẫn còn một số cơ sở sản xuất, ương dưỡng chưa được kiểm tra, đánh giá và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động theo quy định. Tình trạng lưu thông tôm giống không rõ nguồn gốc, chưa qua kiểm dịch vẫn còn tồn tại, đặc biệt vào các thời điểm cao vụ thả nuôi.

Số lượng cơ sở sản xuất tôm giống đạt tiêu chuẩn hiện vẫn còn hạn chế. Phần lớn các cơ sở nhỏ lẻ chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, quy trình kỹ thuật và an toàn sinh học. Trong khi đó, tâm lý của một bộ phận người nuôi vẫn ưa chuộng giống giá rẻ, dẫn đến việc các cơ sở nhỏ lẻ, đầu tư thấp, bán giống với giá rẻ và nhiều hình thức khuyến mãi có cơ hội tồn tại và cạnh tranh không lành mạnh với các cơ sở đạt chuẩn. Hệ quả là khi người nuôi sử dụng giống kém chất lượng, năng suất và hiệu quả kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đồng thời làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

Hướng tới tự chủ

Để nâng cao chất lượng tôm giống và đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành tôm, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược và lâu dài. Trước hết, việc chủ động nguồn tôm bố mẹ cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Nhà nước phải tăng cường đầu tư cho các chương trình nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất tôm bố mẹ trong nước, từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Đồng thời, có cơ chế hỗ trợ cụ thể để các địa phương và doanh nghiệp tiếp cận nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao, ổn định.

Theo kế hoạch của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, đến năm 2030, ngành tôm sẽ duy trì công suất hiện có, hiện đại hóa hạ tầng và phấn đấu có ít nhất 50% cơ sở sản xuất giống đạt chuẩn an toàn dịch bệnh. Cả nước dự kiến hình thành hơn 10 cơ sở chọn tạo, sản xuất tôm bố mẹ, với khả năng cung ứng từ 200.000 – 250.000 con/năm. Mục tiêu sản lượng giống đạt 160 – 200 tỷ con/năm, trong đó TTCT 120 – 150 tỷ con và tôm sú 40 – 50 tỷ con, hướng tới sự tự chủ và phát triển bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến yêu cầu các địa phương, đơn vị, hiệp hội và cơ sở sản xuất giống tập trung triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm. Trước hết, cần đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng nghiên cứu, sản xuất và ương dưỡng giống theo hướng hiện đại, đủ năng lực chọn tạo giống bằng công nghệ tiên tiến. Bộ khuyến khích doanh nghiệp và các tổ chức khoa học tham gia nghiên cứu, phát triển giống, đặc biệt tại các địa phương trọng điểm như Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng, An Giang.

Bên cạnh đó, các địa phương cần chủ động quy hoạch quỹ đất phù hợp, tạo điều kiện để doanh nghiệp liên kết với Viện nghiên cứu, trường đại học trong chọn tạo và sản xuất tôm bố mẹ. Đồng thời, khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất TTCT bố mẹ tại khu vực miền Trung, nơi có điều kiện tự nhiên phù hợp. Việc nghiên cứu chọn tạo các dòng tôm bố mẹ tăng trưởng nhanh, kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ góp phần đảm bảo nguồn cung giống chất lượng cao cho nuôi thương phẩm.

Đặc biệt, công tác quản lý chất lượng cần được siết chặt. Các cơ sở sản xuất giống phải được kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, thực hiện kiểm dịch và công bố tiêu chuẩn chất lượng giống theo quy định. Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về chất lượng, nguồn gốc giống là yêu cầu bắt buộc.

Nâng chất lượng tôm giống chính là đầu tư cho tương lai ngành tôm. Khi “khâu đầu” được kiểm soát tốt, hiệu quả và tính bền vững của nghề nuôi tôm sẽ được đảm bảo lâu dài.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!