(TSVN) – Chiều 18/12, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa tổ chức hội nghị sơ kết kết quả thực hiện Đề án Phát triển ngành chế biến thủy sản và Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường giai đoạn 2021–2025.
Phát biểu tại hội nghị, ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhấn mạnh, quan trắc, cảnh báo môi trường là nền tảng quyết định chất lượng và tính bền vững của sản xuất, trong khi chế biến chính là “chìa khóa” tạo ra giá trị gia tăng cho toàn chuỗi ngành hàng. Theo ông Cẩn, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, thiên tai và thời tiết cực đoan gia tăng, việc chủ động kiểm soát môi trường nuôi trồng có ý nghĩa sống còn, giúp ngành thủy sản tiếp tục đóng góp khoảng 56–58% tổng sản lượng và giá trị của toàn ngành nông nghiệp.
Ông Cẩn cho rằng, chỉ khi môi trường được kiểm soát tốt, sản phẩm thủy sản mới bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, từ đó nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.
Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: Hồng Đăng
Năm 2025 được đánh giá là một năm đầy khó khăn đối với sản xuất và xuất khẩu thủy sản, song toàn ngành vẫn ghi nhận nhiều kết quả nổi bật. Kim ngạch xuất khẩu tính đến hết tháng 11 đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Dự kiến cả năm, xuất khẩu thủy sản có thể đạt 11,2–11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay.
Trong cơ cấu sản phẩm, tôm tiếp tục giữ vai trò “đầu tàu” với kim ngạch trên 4,31 tỷ USD, tăng hơn 21%. Cá tra cũng vượt mốc 2 tỷ USD, tăng khoảng 9%, nhờ sự phục hồi mạnh mẽ từ các thị trường Trung Quốc và ASEAN. Những kết quả này cho thấy định hướng tập trung vào kiểm soát chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường đang phát huy hiệu quả rõ rệt.
Tại hội nghị, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa cho biết, giá trị xuất khẩu thủy sản của tỉnh năm 2025 ước đạt khoảng 870 triệu USD, chiếm gần 45% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Tổng sản lượng thủy sản trong 11 tháng đạt hơn 9 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm khoảng 5,5 triệu tấn.
Theo đánh giá của địa phương, kết quả này phản ánh sự chuyển dịch đúng hướng từ khai thác sang nuôi trồng bền vững, phù hợp với chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Việc áp dụng các quy trình nuôi tiên tiến, kết hợp theo dõi môi trường thường xuyên đã giúp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh, nâng cao hiệu quả sản xuất và ổn định sinh kế cho người dân ven biển.
Báo cáo tại hội nghị cho thấy, đến nay hệ thống quan trắc môi trường nuôi trồng thủy sản đã được triển khai tại 34 tỉnh, thành phố với hơn 870 điểm theo dõi. Hệ thống tập trung giám sát các đối tượng nuôi chủ lực như tôm nước lợ và cá tra, giúp theo dõi sát các thông số môi trường quan trọng như pH, oxy hòa tan, độ mặn. Nhờ đó, nhiều vùng nuôi đã kịp thời điều chỉnh quy trình sản xuất, hạn chế phát sinh dịch bệnh. Diện tích bị ảnh hưởng bởi các bệnh nguy hiểm như đốm trắng, phân trắng và hội chứng hoại tử gan tụy cấp giảm mạnh, có nơi giảm từ 66% đến gần 100% so với cùng kỳ năm trước.
Theo Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Nhữ Văn Cẩn, việc chia sẻ dữ liệu quan trắc hiện đã được thống nhất thông qua phần mềm cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia. Các bản tin cảnh báo, khuyến cáo kỹ thuật được chuyển tải nhanh chóng tới địa phương và người nuôi, giúp chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Tại các khu vực trọng điểm như Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa và Lâm Đồng, sản lượng tôm nước lợ năm 2025 ước đạt trên 40.600 tấn, trong khi tôm hùm đạt hơn 15.200 tấn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của ngành.
Bên cạnh những kết quả tích cực, các nhà khoa học và cơ quan quản lý cũng thẳng thắn chỉ ra một số thách thức. Chất lượng nước tại một số vùng nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa có dấu hiệu suy giảm vào thời điểm giao mùa, kéo theo sự xuất hiện của vi khuẩn Vibrio spp. gây bệnh sữa. Ở các vùng nuôi cá nước lạnh, hàm lượng chất hữu cơ gia tăng đã tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, khiến tỷ lệ mẫu cá tầm nhiễm bệnh lở loét ở mức cao. Ngoài ra, hạ tầng quan trắc tại nhiều địa phương còn lạc hậu, dữ liệu chưa được cập nhật theo thời gian thực. Việc ứng dụng công nghệ số và các giải pháp của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện mới tập trung ở doanh nghiệp lớn, trong khi hộ nuôi nhỏ lẻ còn gặp nhiều hạn chế về nguồn lực và kỹ năng.
Trước thực tế đó, Cục Thủy sản và Kiểm ngư xác định, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn ngành. Song song với quan trắc môi trường, hiện đại hóa chế biến được xác định là khâu đột phá chiến lược. Theo định hướng đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành trung tâm chế biến thủy sản của thế giới, nằm trong nhóm 5 quốc gia hàng đầu toàn cầu.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành thủy sản sẽ tập trung phát triển hệ thống chế biến hiện đại, an toàn và bền vững; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ bảo quản, chế biến sâu nhằm nâng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng. Cùng với đó, ngành sẽ phối hợp chặt chẽ với các địa phương quy hoạch khu chế biến tập trung, xây dựng kho lạnh, cảng cá và các cụm công nghiệp chuyên ngành.
Thùy Khánh