(TSVN) – Nhiều mô hình nuôi tôm hiện đại đã và đang được triển khai tại Việt Nam, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng tính an toàn sinh học và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành tôm.

Là mô hình nuôi tôm công nghệ cao của Tập đoàn Thăng Long xây dựng và hiện đang được phát triển tại nhiều địa phương trên khắp cả nước. TLSS là mô hình nuôi TTCT nhiều giai đoạn với phương thức nuôi thâm canh, siêu thâm canh được thực hiện trên ao bạt. Năm 2025 đánh dấu bước phát triển nổi bật của mô hình TLSS, với tỷ lệ thành công đạt tới 84% (số liệu được cập nhật từ 01/12/2024 – 20/10/2025). Nhờ áp dụng mô hình TLSS, nhiều hộ nuôi và trang trại trên khắp cả nước đã đạt năng suất cao, ổn định dịch bệnh và tiết giảm đáng kể chi phí sản xuất. Trong thời gian tới, Tập đoàn Thăng Long sẽ tiếp tục mở xây dựng mô hình TLSS cho các đối tượng khác như tôm sú, cá điêu hồng, cá lóc.
Là phát minh của Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam. CPF-Combine là sự kết hợp nhiều giải pháp quan trọng như an toàn sinh học (dùng chế phẩm sinh học ngăn ngừa vật chủ trung gian, dùng vi sinh khống chế dịch bệnh), môi trường nuôi sạch (nguồn nước đầu vào và đáy ao được xử lý sạch), sử dụng con giống sạch bệnh và dùng thức ăn chất lượng tốt. Đặc biệt, tôm được thu hoạch từ mô hình CPF-Combine đều có thể chế biến xuất khẩu vì có chất lượng tốt, không có dư lượng kháng sinh. Với công nghệ này, tôm được nuôi theo 3 giai đoạn. Giai đoạn tôm con nhỏ, sẽ được nuôi trong bể chứa với dung tích nước nhỏ, nhờ vậy không tốn diện tích ao nuôi. Khi tôm lớn lên sẽ được đưa sang ao nuôi có dung tích lớn hơn. Việc chia ra nuôi nhiều giai đoạn như vậy sẽ giúp kiểm soát dịch bệnh tốt hơn. Thời gian nuôi trong ao ngắn, giúp tiết kiệm được diện tích ao nuôi, quay vòng các lứa nhanh, lại đảm bảo phòng dịch bệnh, tỷ lệ chết thấp, tôm lớn nhanh hơn. Không những thế, CPF-Combine còn giúp người dân nuôi TTCT đạt kích cỡ lớn (có thể đạt 15 con/kg) để có giá bán cao hơn, lợi nhuận tốt hơn. Đồng thời, giảm thời gian mỗi vụ nuôi trong ao xuống chỉ còn 2 – 3 tháng.
Ao nuôi tôm siêu thâm canh giàu ôxy công nghệ số. Ảnh: RYNAN
Mô hình nuôi tôm “3 Tốt” được Công ty TNHH Uni-President Việt Nam nghiên cứu và triển khai trong bối cảnh môi trường nuôi suy thoái, dịch bệnh trên tôm ngày càng phức tạp, trong khi khả năng đầu tư cải tạo đồng bộ ao nuôi của nhiều hộ nuôi còn hạn chế. Trước thực tế đó, mô hình được xây dựng theo hướng đơn giản, dễ áp dụng nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả, chú trọng tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí sản xuất, đơn giản hóa xử lý môi trường, đồng thời nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro và phòng ngừa dịch bệnh. Mô hình có tính linh hoạt cao, phù hợp với nhiều quy mô nuôi khác nhau, từ hộ nhỏ lẻ đến trang trại lớn. Bên cạnh đó, các nội dung kỹ thuật trong mô hình luôn được Uni-President Việt Nam cập nhật, hoàn thiện nhằm đáp ứng điều kiện nuôi thực tế và góp phần phòng, chống hiệu quả các bệnh nguy hiểm như TPD, EHP.
Công nghệ MPBio 5 trong 1 với việc mô phỏng môi trường tự nhiên, nuôi bằng nước biển có độ mặn cao; kết hợp kiểm soát môi trường nuôi bằng các công nghệ số, giám sát ao nuôi 24/24 giờ và ra quyết định dựa trên dữ liệu; hạn chế sử dụng các loại kháng sinh; và thu hoạch, vận chuyển tôm sống đến nhà máy chế biến. Công nghệ này được Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú nghiên cứu, đã thử nghiệm từ 2022 và ghi nhận thành công. Công nghệ sử dụng toàn bộ vi sinh đối kháng để ức chế mầm bệnh, dùng vi sinh để tăng cường sức khỏe miễn dịch của tôm và xử lý nước trong ao. Nuôi tôm theo công nghệ này không phải xử lý nước. Công nghệ có thể giúp nâng tỷ lệ sống của tôm lên mức 80%, cao hơn nhiều so với các phương pháp nuôi truyền thống. Diện tích mặt nước thả giống cũng được gia tăng từ 30% lên 60%, giúp nâng cao khả năng phát triển của tôm. Công nghệ giúp giảm chi phí sản xuất tới 50% và tăng lợi nhuận từ 10 – 20% so mô hình nuôi tôm cũ.
Là mô hình nuôi tôm công nghệ cao, bền vững mang lại vụ nuôi “Năng suất cao – Chi phí thấp”. Ra mắt năm 2020, sau 5 năm triển khai tại nhiều vùng nuôi trọng điểm, mô hình GROFARM, hiện được nâng cấp thành GROFARM PRO đã chứng minh được hiệu quả vượt trội. GROFARM PRO được Công ty TNHH Grobest Industrial (Việt Nam) phát triển như một hệ sinh thái nuôi tôm thông minh, kết hợp khoa học, công nghệ và dinh dưỡng tối ưu trong suốt chu trình nuôi. Mô hình tập trung vào 7 yếu tố cốt lõi: hệ thống nuôi phù hợp, con giống chất lượng, chương trình dinh dưỡng tối ưu, dịch vụ kỹ thuật Mobile Lab, ứng dụng công nghệ mới, hướng đến hiệu quả và sự bền vững. Hạ tầng nuôi của GROFARM PRO được thiết kế và xây dựng linh hoạt, phù hợp với từng khu vực và điều kiện thực tế của từng hộ nuôi. Nhờ quy trình kiểm soát nghiêm ngặt, mô hình đạt tỷ lệ thành công trên 92%.
Công ty CP RYNAN Technologies Vietnam đã phát triển và vận hành thành công mô thức nuôi TTCT siêu thâm canh giàu ôxy công nghệ số TOMGOXYTM dựa trên sự sáng tạo tích hợp các công nghệ vật lý, hóa học, sinh học và kỹ thuật số. TOMGOXYTM giải quyết các vấn đề chính của ngành tôm, gồm năng suất thấp, dư lượng kháng sinh cao dẫn tới không đạt chuẩn, chi phí sản xuất cao, lãng phí nguồn tài nguyên đất và nước,… Khác biệt của mô hình là sự thay đổi hệ thống tuần hoàn nước, thay dòng chảy rối thành dòng chảy tầng để giảm sự thất thoát ôxy hòa tan. Đồng thời, những chiếc máy sục khí quen thuộc trong các ao nuôi tôm được thay thế bằng máy tạo ôxy (đưa ôxy tinh khiết vào nước để ôxy tan ở nồng độ cao hơn bão hòa). Ao nuôi tôm theo mô thức siêu thâm canh giàu ôxy công nghệ số TOMGOXYTM chỉ gồm có mái nổi, hệ thống tạo dòng nước cho tôm ăn và hệ thống cung cấp ôxy cho tôm.
Tôm nuôi siêu thâm canh trong hệ thống CTU-RAS. Ảnh: ĐHCT
Từ năm 2018, nhóm nghiên cứu của Đại học Cần Thơ đã phát triển mô hình CTU-RAS – hệ thống nuôi tôm tuần hoàn hoàn chỉnh, không thay nước trong suốt vụ nuôi, chỉ bổ sung 10 – 20% lượng nước và có thể tái sử dụng liên tục cho ba vụ mỗi năm. Hệ thống được thiết kế theo nguyên lý cân bằng sinh học, gồm khu nuôi tôm chính chiếm 70 – 75% diện tích và khu lọc sinh học chiếm 25 – 30%. Trong đó, cá rô phi xử lý chất lơ lửng, giá thể sinh học chuyển hóa amoni, nitrit, nitrat, còn rong câu hấp thu các hợp chất nitơ và phốt pho dư thừa. Kết quả thực nghiệm cho thấy CTU-RAS mang lại hiệu quả rõ rệt về kỹ thuật, kinh tế và môi trường, góp phần giảm ô nhiễm, nâng cao an toàn sinh học, tiết kiệm thức ăn, khoáng và hóa chất, đồng thời thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. Mô hình có thể vận hành linh hoạt tại cả vùng ven biển và nội địa, cung cấp tôm sạch, tươi sống cho thị trường và dễ dàng tích hợp công nghệ thông minh. Hiện CTU-RAS đã được triển khai tại Sóc Trăng (nay là TP Cần Thơ) và Cà Mau với mật độ nuôi 300 con/m³. Song song đó, Đại học Cần Thơ đã tổ chức nhiều khóa tập huấn, góp phần đưa mô hình vào thực tiễn sản xuất.
Thanh Hiếu