Giữ đà tăng trưởng

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Năm 2025 khép lại trong bối cảnh thời tiết diễn biến bất thường, thị trường thế giới nhiều biến động, song xuất khẩu tôm Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng ấn tượng. Kết quả này phản ánh rõ năng lực thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp, đồng thời mở ra những kỳ vọng tích cực cho năm 2026, dù thách thức vẫn hiện hữu.

Khả năng thích ứng của doanh nghiệp

Ngay từ giữa tháng 12/2025, ngành tôm đã có cơ sở vững chắc để tin tưởng kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt khoảng 4,6 tỷ USD, tăng trưởng ấn tượng gần 18% so mức 3,9 tỷ USD của năm 2024. Trước đó, theo số liệu của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu tôm tính đến hết tháng 11/2025 đã đạt 4,3 tỷ USD, tăng 21% so cùng kỳ năm trước.

Xét theo thị trường, trong 11 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu tôm sang Trung Quốc – Hồng Kông đạt khoảng 1,2 tỷ USD, chiếm 28% tổng kim ngạch và tăng 59% so cùng kỳ. Khối CPTPP cũng đạt 1,2 tỷ USD, tăng 32%. Thị trường Mỹ đạt 754 triệu USD, tăng 7%, dù chịu tác động từ các biện pháp phòng vệ thương mại và thuế chống bán phá giá sơ bộ POR19. Xuất khẩu sang EU đạt 540 triệu USD, tăng 21%, với Đức, Bỉ và Hà Lan là những điểm sáng. Thị trường Nhật Bản đạt 535 triệu USD, tăng 13%; các thị trường Australia, Anh và Canada duy trì tăng trưởng ổn định, góp phần đa dạng hóa thị trường.

Sản xuất tôm năm 2025 tăng trưởng tích cực, giữ vững vai trò chủ lực của ngành thủy sản. Ảnh: Văn Dương

Về cơ cấu sản phẩm, TTCT tiếp tục giữ vai trò chủ lực với kim ngạch 2,8 tỷ USD, chiếm 65% tổng kim ngạch. Tôm sú đạt 426 triệu USD, tăng 4%. Đáng chú ý, nhóm tôm khác đạt trên 1 tỷ USD, tăng 74%, chủ yếu nhờ xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc.

Kết quả trên cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã thích ứng linh hoạt với từng thị trường, đặc biệt ở phân khúc sản phẩm chế biến sâu. Dù thị trường Mỹ chịu áp lực thuế quan, tôm Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng nhờ lợi thế về sản phẩm giá trị gia tăng. Tại Trung Quốc – Hồng Kông và Nhật Bản, doanh nghiệp tiếp tục khai thác hiệu quả các phân khúc phù hợp với thị hiếu tiêu dùng.

Bước sang năm 2026, triển vọng được đánh giá thận trọng hơn trước áp lực thuế tại Mỹ, cạnh tranh tại Trung Quốc và chi phí sản xuất trong nước cao. Tuy nhiên, với chiến lược linh hoạt, tập trung vào các phân khúc ngách, mở rộng thị trường CPTPP, EU, Trung Đông và đẩy mạnh sản phẩm giá trị gia tăng, ngành tôm Việt Nam vẫn được kỳ vọng duy trì đà tăng trưởng.

Liên kết chuỗi nâng tầm tôm Việt

Cùng với kết quả xuất khẩu tích cực và năng lực thích ứng ngày càng rõ nét của doanh nghiệp, liên kết chuỗi đang nổi lên như một trụ cột quan trọng nhằm nâng cao giá trị và tính bền vững của ngành tôm Việt Nam. Trong xu thế đó, ngày 18/12/2025, tại TP Hồ Chí Minh đã diễn ra lễ ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú và Công ty TNHH De Heus (Hà Lan), hướng tới xây dựng chuỗi giá trị ngành tôm khép kín từ con giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến, xuất khẩu.

Ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa Công ty TNHH De Heus với Công ty CP Tập đoàn Thủy sản Minh Phú. Ảnh: De Heus

Phát biểu tại sự kiện, ông Johan van den Ban, Tổng Giám đốc De Heus Việt Nam và châu Á, cho biết sự kết hợp giữa thế mạnh dinh dưỡng của De Heus và năng lực nuôi trồng, chế biến của Minh Phú sẽ góp phần hình thành chuỗi giá trị bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của tôm Việt Nam. Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cho rằng mô hình liên kết này giúp minh bạch nguồn gốc, đồng thời tạo điều kiện để hợp tác xã và người nuôi tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Minh Phú hiện xuất khẩu tôm sang hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi De Heus có hơn 110 năm kinh nghiệm và vận hành 6 nhà máy thức ăn thủy sản tại Việt Nam. Hợp tác giữa hai bên được kỳ vọng tạo chuyển biến về hiệu quả sản xuất và nâng tầm thương hiệu tôm Việt. Trọng tâm là phát triển mô hình nuôi TTCT siêu thâm canh tuần hoàn tại Cà Mau, quy mô khoảng 1.500 ha, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Song song đó, mô hình liên kết được mở rộng theo hướng gắn kết Viện – Trường – Doanh nghiệp – Địa phương, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển bền vững ngành tôm.

Mở rộng mô hình tôm – lúa

Song song với việc thúc đẩy liên kết chuỗi và ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho con tôm, chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu đang trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển ngành tôm tại ĐBSCL. Trong nuôi tôm nước lợ, mô hình tôm – lúa ngày càng khẳng định giá trị bền vững, vừa phù hợp điều kiện sinh thái, vừa tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng xu hướng tiêu dùng an toàn và thân thiện môi trường.

Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản đề xuất giai đoạn 2026 – 2030 chuyển đổi 56.487 ha đất lúa một vụ kém hiệu quả sang tôm – lúa theo hướng “nông nghiệp thuận thiên”.

Theo nghiên cứu của Viện, giai đoạn 2015 – 2024, hạn hán và xâm nhập mặn đã gây thiệt hại nghiêm trọng tại ĐBSCL: lúa bị thiệt hại trên 70% với 288.622 ha, từ 30 – 70% là 243.640 ha; thủy sản thiệt hại 109.159 ha, cùng các cây ăn trái và rau màu, tổng thiệt hại lên tới 12.342 tỷ đồng. Dự báo năm 2030, trong kịch bản ít nước, thiệt hại có thể còn 5.478 tỷ đồng, trong đó lúa 4.068 tỷ và thủy sản 871 tỷ đồng.

Chuyển đổi sang mô hình tôm – lúa kỳ vọng nâng diện tích toàn vùng lên 255.000 ha, lợi nhuận ước đạt 4.500 – 6.700 tỷ đồng. Để thực hiện 56.058 ha, tổng vốn cần khoảng 17.378 tỷ đồng, gồm Trung ương 8.689 tỷ, địa phương 1.738 tỷ và nguồn huy động khác 6.951 tỷ; thời gian hoàn vốn dự báo 3 – 5 năm.

Để chuyển đổi thành công, cần tập trung đầu tư hạ tầng thủy lợi khép kín; ứng dụng công nghệ 4.0 trong quan trắc mặn, quản lý vùng nuôi bằng dữ liệu vệ tinh và nền tảng số; nghiên cứu giống tôm, cá và lúa chịu mặn, kháng bệnh; đồng thời áp dụng VietGAP, GlobalGAP và ASC nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Kinh tế tuần hoàn và cơ hội phụ phẩm

Xu hướng kinh tế tuần hoàn đang mở ra dư địa lớn cho việc khai thác phụ phẩm tôm (đầu, vỏ và vỏ tôm lột) để sản xuất các sản phẩm sinh học giá trị cao. Theo TS. Ngô Hồng Phượng (Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh), các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn cho thấy phụ phẩm tôm có thể tạo ra peptide – nguồn đạm giá trị, chitosan – polymer tự nhiên hỗ trợ tiêu hóa, ức chế vi sinh vật gây bệnh, và astaxanthin – chất chống ôxy hóa hữu ích trong nuôi trồng thủy sản.

Với khoảng 800.000 tấn tôm nguyên liệu mỗi năm, Việt Nam phát sinh gần 400.000 tấn phụ phẩm. Khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ giảm ô nhiễm môi trường mà còn gia tăng giá trị cho toàn ngành.

Một số doanh nghiệp đã tiên phong triển khai, điển hình là Công ty Vietnam Food (VNF), mỗi năm sử dụng 35.000 – 50.000 tấn phụ phẩm tôm để chiết xuất 10.000 – 12.000 tấn peptide, 800 – 1.000 tấn chitin/chitosan và hơn 2.000 tấn nguyên liệu thực phẩm. Hiện VNF phối hợp với GIZ thí điểm thu hồi vỏ tôm lột tại các trại nuôi giai đoạn 10/2025 – 3/2026, hướng tới nhân rộng từ quý III/2026, góp phần thúc đẩy nuôi trồng xanh, bền vững và tăng thu nhập cho người nuôi.

Sáu Nghệ

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!