Hoàn thiện chuỗi truy xuất nguồn gốc từ cảng cá đến xuất khẩu

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số quy định ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác thủy sản; kiểm tra tàu cá và giám sát sản lượng tại cảng cá; lập danh sách tàu cá khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU); đồng thời quy định cụ thể việc xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, thay thế Thông tư số 21/2018/TT-BNNPTNT.

Thông tư này quy định chi tiết một số nội dung của Luật Thủy sản năm 2017 gồm: Điểm h khoản 2 Điều 52 (đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm e khoản 21 Điều 14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường); Khoản 3 Điều 60 (đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm e khoản 21 Điều 14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường); Khoản 4 Điều 61 (đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm e khoản 21 Điều 14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường).

Nội dung Thông tư áp dung cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đánh bắt nguồn lợi thủy sản, hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản; thu mua, chuyển tải, vận chuyển, bốc dỡ, chế biến, xuất nhập khẩu thủy sản từ khai thác; xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, xác nhận cam kết nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu để chế biến xuất khẩu vào thị trường có yêu cầu.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư mới nhằm siết chặt kỷ cương trong khai thác trên biển. Ảnh: ST

Một trong những nội dung trọng tâm của Thông tư là quy định chi tiết trách nhiệm ghi và nộp nhật ký, báo cáo khai thác thủy sản theo chiều dài tàu cá.

Theo đó, tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét trở lên phải ghi nhật ký khai thác hằng ngày và nộp cho tổ chức quản lý cảng cá trước thời điểm bốc dỡ thủy sản. Nhật ký có thể thực hiện bằng bản giấy hoặc điện tử, gắn mã định danh theo từng tàu.

Đối với tàu cá từ 6 mét đến dưới 12 mét, thuyền trưởng phải ghi báo cáo khai thác theo chuyến biển và nộp định kỳ hằng tuần. Tàu dưới 6 mét tuy không phải ghi đầy đủ sản lượng, nhưng vẫn phải báo cáo khi bắt gặp hoặc khai thác không chủ ý các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm.

Nhật ký khai thác thủy sản bản điện tử; xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác bản điện tử theo đúng mẫu quy định được sử dụng làm căn cứ để xác nhận, chứng nhận sản phẩm thủy sản khai thác.

Đối với tàu hậu cần, thuyền trưởng tàu thu mua, chuyển tải thủy sản phải ghi nhật ký hằng ngày và nộp cho tổ chức quản lý cảng cá trước thời điểm bốc dỡ thủy sản. Nhật ký được ghi bằng bản giấy có chữ ký của thuyền trưởng hoặc nhật ký điện tử có mã định danh theo từng tàu cá.

Thông tư này còn quy định việc kiểm tra tàu cá và giám sát sản lượng thủy sản tại cảng cá. Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra tàu cá, trong khi tổ chức quản lý cảng cá trực tiếp giám sát việc bốc dỡ thủy sản.

Đáng chú ý, tàu cá nằm trong danh sách IUU sẽ không được phép bốc dỡ thủy sản tại cảng. Với tàu cá có nguy cơ cao vi phạm IUU, cảng cá vẫn cho cập cảng nhưng phải thông báo cơ quan chức năng để kiểm tra, xử lý.

Trường hợp tổng sản lượng thủy sản bốc dỡ thực tế sai lệch từ 20% trở lên so với sản lượng khai báo trước khi cập cảng, cơ quan chức năng sẽ lập biên bản và xử lý theo quy định. Đây được coi là “hàng rào kỹ thuật” nhằm ngăn chặn gian lận sản lượng, hợp thức hóa nguồn gốc thủy sản.

Ngoài ra, Thông tư quy định cụ thể các trường hợp tàu cá bị đưa vào danh sách khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), như: vi phạm vùng biển nước ngoài, không chấp hành xử phạt, khai thác trái phép hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định về ghi nhật ký, báo cáo.

Ngoài ra, danh sách tàu cá IUU và danh sách tàu cá có nguy cơ cao vi phạm IUU được cập nhật, công bố hằng tuần trên trang thông tin điện tử của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, làm căn cứ để các cảng cá, lực lượng chức năng và địa phương giám sát, kiểm soát.

Đồng thời, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức giám sát, quản lý tàu cá có nguy cơ cao vi phạm về khai thác thủy sản bất hợp pháp trên địa bàn để bảo đảm tàu cá không cho đi hoạt động khai thác thủy sản.

Một vấn đề quan trọng được đề cập trong Thông tư mới này là việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về xác nhận nguyên liệu và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, yêu cầu then chốt để đáp ứng các thị trường nhập khẩu có quy định nghiêm ngặt, đặc biệt là EU.

Theo đó, tổ chức quản lý cảng cá được chỉ định có thẩm quyền xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác trong nước; cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh thực hiện chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác; các trung tâm chuyên ngành thuộc Bộ thực hiện xác nhận cam kết hoặc chứng nhận đối với sản phẩm chế biến từ nguyên liệu thủy sản nhập khẩu.

Thời gian giải quyết hồ sơ được quy định cụ thể (1 – 2 ngày làm việc), gắn với trách nhiệm đối chiếu dữ liệu nhật ký khai thác, hành trình tàu cá qua hệ thống giám sát và hồ sơ truy xuất nguồn gốc.

Về thẩm quyền xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác, Thông tư nêu rõ việc tổ chức quản lý cảng cá được chỉ định xác nhận nguồn gốc nguyên liệu thủy sản từ khai thác thực hiện xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác trong nước về khối lượng, thành phần loài thủy sản, vùng và thời gian khai thác đối với tàu cá bốc dỡ thủy sản tại cảng cá khi có yêu cầu.

Cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh thực hiện chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác trong nước không vi phạm quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

Các Trung tâm Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường vùng thuộc Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường thực hiện xác nhận cam kết hoặc chứng nhận sản phẩm thủy sản được chế biến từ nguyên liệu thủy sản khai thác nhập khẩu không có nguồn gốc từ khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định theo yêu cầu của tổ chức nghề cá khu vực hoặc nước nhập khẩu.

Về trách nhiệm thực thi, Thông tư chỉ rõ Cục Thủy sản và Kiểm ngư tổ chức kiểm tra việc thực hiện xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác. Cùng đó, chủ trì xử lý vướng mắc liên quan đến việc xác nhận nguyên liệu, chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác trong nước; phối hợp với các cơ quan có liên quan trao đổi thông tin, xử lý vướng mắc liên quan đến việc xác nhận cam kết hoặc chứng nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu có nguồn gốc từ thủy sản khai thác nhập khẩu.

Việc ban hành Thông tư thay thế Thông tư 21/2018 được đánh giá là bước hoàn thiện thể chế quan trọng trong quản lý khai thác thủy sản, phù hợp với Luật Thủy sản sửa đổi và các cam kết quốc tế. Thông tư không chỉ siết chặt kỷ cương trong khai thác trên biển, mà còn tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho truy xuất nguồn gốc, bảo vệ uy tín thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhất là trong bối cảnh nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU vẫn đang được triển khai quyết liệt.

Phan Thảo

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!