(TSVN) – Mới đây, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 41/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.
Nghị định gồm 9 chương, 57 điều quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 31/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15, Luật số 146/2025/QH15 về quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; quản lý tàu cá; kiểm ngư; xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, sản phẩm thủy sản; quản lý nhà nước về thủy sản… Nghị định được xem là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế, góp phần chuẩn hóa hoạt động sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

Hoạt động nuôi trồng phải tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường. Ảnh: ST
Nuôi trồng thủy sản theo hướng bền vững, kiểm soát rủi ro môi trường
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định 41/NĐ-CP là thiết lập khung quản lý thống nhất đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, từ khâu đăng ký, tổ chức sản xuất đến giám sát môi trường và phòng, chống dịch bệnh.
Theo đó, tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về địa điểm, cơ sở hạ tầng, nguồn nước, hệ thống xử lý chất thải phù hợp với quy hoạch và quy chuẩn kỹ thuật. Đối với các hình thức nuôi tập trung, nuôi thâm canh, siêu thâm canh, Nghị định nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát môi trường nước, quản lý chất lượng đầu vào – đầu ra, hạn chế tối đa nguy cơ ô nhiễm và lây lan dịch bệnh.
Nghị định quy định rõ trách nhiệm của cơ sở nuôi trồng trong việc quan trắc, ghi chép và lưu giữ thông tin sản xuất, bao gồm nhật ký nuôi, việc sử dụng thức ăn, thuốc thú y thủy sản, hóa chất xử lý môi trường.
Song song với đó, hoạt động nuôi trồng phải tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường, không xả thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên khi chưa qua xử lý đạt quy chuẩn. Việc sử dụng mặt nước, mặt biển để nuôi trồng cũng phải phù hợp với quy hoạch không gian biển, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn hệ sinh thái.
Nâng cao chất lượng nguồn giống thủy sản
Theo quy định tại Nghị định, cơ sở sản xuất giống phải đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nước, quy trình kỹ thuật, đồng thời có đội ngũ nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyên môn. Con giống đưa ra thị trường phải được kiểm soát chất lượng, bảo đảm khỏe mạnh, không mang mầm bệnh, phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Nghị định cũng nhấn mạnh yêu cầu quản lý nguồn gốc đàn bố mẹ, đặc biệt đối với các đối tượng nuôi chủ lực và có giá trị kinh tế cao. Việc khai thác, sử dụng giống bố mẹ từ tự nhiên phải được kiểm soát chặt chẽ, tránh suy giảm nguồn lợi và ảnh hưởng đến đa dạng sinh học.
Đối với hoạt động kinh doanh giống, tổ chức, cá nhân phải công khai thông tin về loài, nguồn gốc, chất lượng giống, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của thông tin cung cấp. Đây là cơ sở để bảo vệ quyền lợi người nuôi, hạn chế tình trạng giống kém chất lượng, giống không rõ nguồn gốc gây thiệt hại sản xuất.
Tăng cường quản lý dịch bệnh và an toàn sinh học
Nghị định 41/NĐ-CP đặt trọng tâm vào phòng, chống dịch bệnh thủy sản theo hướng chủ động, gắn với an toàn sinh học trong toàn bộ quá trình nuôi trồng và sản xuất giống. Các cơ sở phải xây dựng và thực hiện biện pháp phòng bệnh tổng hợp, kiểm soát chặt chẽ nguồn giống, nguồn nước và điều kiện nuôi.
Khi phát hiện dấu hiệu dịch bệnh, cơ sở nuôi trồng và sản xuất giống có trách nhiệm kịp thời báo cáo cơ quan quản lý, đồng thời thực hiện các biện pháp xử lý theo hướng dẫn chuyên môn, không được tự ý xả thải hoặc tiêu hủy thủy sản gây ô nhiễm môi trường.
Cùng đó, Nghị định nghiêm cấm nuôi trồng thủy sản trái với quy hoạch, nuôi các loài không được phép hoặc có nguy cơ xâm hại môi trường sinh thái. Cấm xả chất thải, nước thải chưa qua xử lý đạt chuẩn ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước và ảnh hưởng đến cộng đồng xung quanh.
Trong lĩnh vực giống thủy sản, Nghị định cấm sản xuất, kinh doanh giống không rõ nguồn gốc, giống mang mầm bệnh, giống không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng. Đồng thời, cấm làm giả, làm sai lệch thông tin về loài, chất lượng và nguồn gốc con giống.
Đặc biệt, Nghị định nghiêm cấm sử dụng hóa chất, kháng sinh, chế phẩm sinh học nằm ngoài danh mục được phép trong quá trình nuôi trồng và sản xuất giống; cấm lạm dụng thuốc thú y thủy sản gây tồn dư, ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm và uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Quản lý tàu cá và Hệ thống giám sát hành trình (VMS)
Theo quy định tại Nghị định này tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản có chiều đài lớn nhất từ 15 mét trở lên hoạt động tại vùng khơi, không được hoạt động tại vùng ven bờ và vùng lộng;
Tàu có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dưới 15 mét hoạt động tại vùng lộng, không được hoạt động tại vùng khơi và vùng ven bờ.
Tàu có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét hoạt động tại vùng ven bờ không được hoạt động tại vùng lộng và vùng khơi.
Đối với tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản, tàu có chiều dài lớn nhất từ 15 mét trở lên hoạt động chuyển tải thủy sản tại vùng khơi, không được hoạt động chuyển tải thủy sản tại vùng lộng và vùng ven bờ.
Tàu có chiều dài lớn nhất từ 12 mét đến dưới 15 mét hoạt động chuyển tải thủy sản tại vùng lộng, không được hoạt động chuyển tải thủy sản tại vùng ven bờ và vùng khơi.
Tàu có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét hoạt động chuyển tải thủy sản tại vùng ven bờ, không được hoạt động chuyển tải thủy sản tại vùng lộng và vùng khơi.
Nghị định 41 cũng quy định về Hệ thống giám sát hành trình tàu cá. Trong đó, mỗi tàu cá lắp tối đa 2 thiết bị VMS và phải đảm bảo hoạt động liên tục 24/7 khi hoạt động trên biển hoặc neo đậu tại các đảo. Dữ liệu từ hệ thống này được sử dụng làm căn cứ pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính, xác nhận nguồn gốc thủy sản và thực hiện các chính sách hỗ trợ. Bên cạnh đó, vùng khai thác cũng được phân chia rõ rệt thành vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi gắn với chiều dài tàu cá để bảo vệ nguồn lợi bền vững. Cùng đó, tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét trở lên phải vào cảng để bốc dỡ sản phẩm.
Về vấn đề chuyển đổi hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản vùng khơi, Nghị định nêu rõ, tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy phép khai thác thủy sản vùng khơi khi thực hiện chuyển quyền sở hữu tàu cá giữa các tỉnh, thành phố phải đảm bảo không tăng tổng số hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản vùng khơi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao.
Việc chuyển đổi hạn ngạch Giấy phép khai thác giữa các nghề trong tổng số hạn ngạch giấy phép đã được giao do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, đảm bảo theo quy định của pháp luật, định hướng phát triển nghề khai thác thủy sản của địa phương theo hướng chỉ cho chuyển đổi sang nghề thân thiện với nguồn lợi thủy sản.
Phạm Thu