(TSVN) – Ngày 20/1, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị tổng kết và đánh giá kết quả nhân rộng mô hình thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao. Hội nghị là dịp nhìn lại chặng đường triển khai đề án thí điểm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu năm 2025, khẳng định quyết tâm của địa phương trong việc đưa nuôi biển trở thành trụ cột quan trọng của kinh tế biển.
Phát biểu tại hội nghị, ông Võ Văn Công, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa cho biết, sau sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh hiện có đường bờ biển dài hơn 495 km với trên 200 đảo, vũng vịnh lớn nhỏ. Đây là lợi thế đặc biệt để phát triển các ngành kinh tế biển, trong đó nuôi trồng thủy sản biển giữ vai trò then chốt.
Theo định hướng Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030, kinh tế biển và nông nghiệp công nghệ cao được xác định là hai cực tăng trưởng quan trọng. Việc thúc đẩy nuôi biển công nghệ cao không chỉ nhằm nâng cao giá trị sản xuất thủy sản, mà còn góp phần tái cấu trúc không gian phát triển ven biển theo hướng hiện đại, bền vững.
Trên cơ sở kết quả tích cực tại thành phố Cam Ranh giai đoạn 2023–2024, năm 2025 Khánh Hòa tiếp tục mở rộng mô hình nuôi biển công nghệ cao với sự hỗ trợ kinh phí từ Quỹ Thiện Tâm (Tập đoàn Vingroup). Chương trình đã thu hút 70 hộ dân đăng ký tham gia tại bốn vùng nuôi trọng điểm gồm Hòn Nội (huyện Cam Lâm), Đầm Bấy (thành phố Nha Trang), thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh. Trong số này, 50 hộ đã trực tiếp triển khai mô hình trên thực địa.
Thu hoạch cá nuôi tại mô hình ở Đầm Bấy, Nha Trang. TTKN tỉnh Khánh Hòa
Báo cáo tại hội nghị, ông Phương Minh Nam, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Khánh Hòa thông tin, kết quả tại vùng nuôi Đầm Bấy cho thấy hiệu quả kinh tế vượt trội so với phương thức truyền thống. Sản lượng thu hoạch đợt đầu đạt 36,5 tấn cá chim vây vàng, tỷ lệ sống trên 85%. Sau khi trừ chi phí, các hộ nuôi thu lợi nhuận khoảng 1,7 tỷ đồng, bình quân 485 triệu đồng mỗi lồng, với tỷ suất lợi nhuận trung bình đạt khoảng 40%. Tại khu vực Hòn Nội, dù là vụ nuôi đầu tiên tiếp cận công nghệ mới, lại gặp nhiều khó khăn về hậu cần do vùng nuôi xa bờ, song các hộ dân vẫn ghi nhận kết quả khả quan. Mỗi hộ đạt lợi nhuận trên 53 triệu đồng; riêng nhóm hộ đến từ Cam Ranh có tổng doanh thu hơn 6 tỷ đồng.
Theo ông Nam, điểm cốt lõi tạo nên thành công của mô hình là việc chuyển đổi từ lồng gỗ truyền thống sang lồng nuôi bằng vật liệu HDPE. Hệ thống lồng này có khả năng chịu sóng gió lớn, giảm thiểu rủi ro thiệt hại khi thời tiết diễn biến bất lợi. Môi trường nước biển hở, sạch giúp cá sinh trưởng nhanh, ít dịch bệnh, từ đó rút ngắn thời gian nuôi từ một đến một tháng rưỡi so với phương thức cũ. Không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, lồng HDPE còn góp phần giải quyết bài toán môi trường, từng bước chấm dứt tình trạng rác thải nhựa từ phao xốp và lồng gỗ xuống cấp – vấn đề tồn tại dai dẳng tại nhiều vùng nuôi ven bờ trong thời gian qua.
Chia sẻ thêm về ưu điểm của công nghệ, ông Hoàng Văn Hợi, Giám đốc Công ty TNHH MTV Dịch vụ và Công nghệ Nuôi trồng Thủy sản – đơn vị cung ứng lồng HDPE cho đề án – cho biết, dù chi phí đầu tư ban đầu cao hơn so với lồng gỗ, song hệ thống HDPE có tuổi thọ lên đến hàng chục năm. Nhờ đó, người nuôi có thể tiết kiệm đáng kể chi phí sửa chữa, thay mới vốn phải thực hiện định kỳ 2–3 năm/lần với lồng truyền thống.
Bề mặt nhựa HDPE trơn nhẵn giúp hạn chế tối đa sự bám dính của hàu, hến và sinh vật ngoại lai, bảo đảm dòng chảy lưu thông ổn định, duy trì hàm lượng oxy hòa tan tối ưu cho cá. Thực tế vận hành trong ba năm qua cho thấy, hệ thống lồng HDPE có độ bền và tính an toàn cao, kể cả trong điều kiện gió bão khắc nghiệt.
Tại hội nghị, nhiều ngư dân bày tỏ sự phấn khởi khi lần đầu tiên chứng kiến hiệu quả rõ rệt từ nuôi biển công nghệ cao. Tuy nhiên, bà con cũng thẳng thắn phản ánh những khó khăn về vốn đầu tư ban đầu, đồng thời kiến nghị Nhà nước sớm ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi lồng bè và đẩy nhanh tiến độ giao, cấp quyền sử dụng mặt nước nuôi trồng thủy sản để người dân yên tâm đầu tư lâu dài.
Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Khánh Hòa, nuôi trồng thủy sản ven bờ hiện đang chịu áp lực lớn từ ô nhiễm môi trường, mật độ lồng bè dày đặc và xung đột không gian với các ngành kinh tế khác. Việc sắp xếp lại vùng nuôi, từng bước di dời lồng bè ra xa bờ là xu thế tất yếu, phù hợp với định hướng phát triển bền vững mà nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang triển khai.
Tuy nhiên, nuôi biển xa bờ cũng đặt ra không ít thách thức về hạ tầng và dịch vụ hậu cần. Ông Võ Lâm Đồng, Giám đốc Hợp tác xã Nuôi biển công nghệ cao Hòn Nội chia sẻ, vùng nuôi cách bờ hơn 6 hải lý, thời gian vận chuyển vật tư mất từ 2,5 đến 3 giờ. Thiếu cầu cảng, kho bãi và nơi lưu trú khiến chi phí sản xuất tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Hợp tác xã kiến nghị tỉnh sớm đầu tư hạ tầng hậu cần, khoanh vùng quy hoạch rõ ràng và có chính sách tín dụng ưu đãi cho người nuôi.
Cùng quan điểm, ngư dân Vũ Khắc Mười đề xuất, cần sớm ban hành bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật lồng bè phù hợp với đặc thù từng vùng biển, đồng thời hỗ trợ chính sách bảo hiểm thủy sản và đơn giản hóa thủ tục thành lập hợp tác xã, tạo nền tảng cho chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ gắn với truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.
Thông tin tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Lệ, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa cho biết, đến nay đơn vị đã cấp 55 giấy phép nuôi trồng thủy sản, đồng thời đang tham mưu phương án xây dựng cầu đò phục vụ hậu cần tại khu vực Hòn Nội. Đáng chú ý, UBND tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Tờ trình số 2081/TTr-UBND, đề xuất bố trí 500 tỷ đồng vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026–2030 để xây dựng hạ tầng vùng nuôi tập trung, bao gồm hệ thống mốc ranh giới, neo lồng và các hạng mục kỹ thuật thiết yếu. Song song đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng nghị quyết hỗ trợ người dân chuyển đổi sang vật liệu nuôi mới, trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét thông qua.
Kết luận hội nghị, ông Võ Văn Công khẳng định, thành công bước đầu của mô hình nuôi biển công nghệ cao là tiền đề quan trọng để Khánh Hòa tiếp tục nhân rộng việc chuyển đổi từ lồng nuôi truyền thống sang lồng HDPE. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là dấu mốc trong quá trình hình thành các vùng nuôi biển công nghiệp tập trung, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, bảo vệ môi trường và đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững của địa phương.
Minh Khuê