Khuyến ngư thúc đẩy tiến trình chuyển đổi xanh

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Trong bối cảnh biến đổi khí hậu phức tạp, chi phí sản xuất tăng và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, ngành thủy sản Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực trong năm 2025. Kết quả này có sự đóng góp quan trọng của hoạt động khuyến ngư thông qua nhiều mô hình chuyển giao kỹ thuật, liên kết sản xuất và cơ giới hóa hiệu quả.

Dấu ấn quan trọng

Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản cả nước đạt khoảng 9,78 triệu tấn, tăng 1,1% so với năm 2024; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 11,3 tỷ USD, tăng 12%, cho thấy sự phục hồi tích cực của ngành sau giai đoạn khó khăn của thị trường toàn cầu.

Kết quả này đạt được trong bối cảnh sản xuất thủy sản đối mặt nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, chi phí đầu vào tăng cao và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường về chất lượng, truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, cảnh báo “thẻ vàng” đối với khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định cũng đặt ra yêu cầu siết chặt quản lý nghề cá. Trước những thách thức đó, hoạt động khuyến nông – khuyến ngư tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa khoa học công nghệ và thực tiễn sản xuất.

Mô hình nuôi tôm công nghệ cao Grofarm tại Cà Mau. Ảnh: Grobest

Một trong những điểm nổi bật của hoạt động khuyến ngư trong năm qua là việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nuôi trồng thủy sản. Nhiều mô hình nuôi tiên tiến được triển khai và nhân rộng tại các địa phương như nuôi tôm – lúa, tôm – rừng hữu cơ, nuôi tôm công nghệ Grofarm, nuôi tôm 2 – 3 giai đoạn hay nuôi cá lồng bè HDPE trên biển. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn góp phần giảm thiểu tác động tới môi trường và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.

Cùng với đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất như VietGAP, các quy trình quản lý dịch bệnh và xử lý môi trường nuôi đã giúp nâng cao nhận thức của người nuôi về sản xuất bền vững. Thông qua các lớp tập huấn và hoạt động tư vấn kỹ thuật, nhiều nông ngư dân đã thay đổi tư duy sản xuất, chủ động áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hiệu quả.

Hoạt động khuyến ngư cũng góp phần thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, kết nối người dân với doanh nghiệp và hợp tác xã. Nhờ vậy, nhiều sản phẩm thủy sản sạch được mở rộng thị trường tiêu thụ, thu nhập của người nuôi tăng 20 – 50% so với trước.

Bên cạnh nuôi trồng, các mô hình khuyến ngư còn thúc đẩy cơ giới hóa trong khai thác và chế biến thủy sản. Việc ứng dụng các thiết bị như đèn LED cho nghề lưới vây, tời thủy lực thu lưới, hầm bảo quản lạnh CPF đã giúp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí và cải thiện điều kiện làm việc cho ngư dân.

Đáng chú ý, mô hình sử dụng đèn LED cho nghề lưới vây cho thấy hiệu quả rõ rệt khi giảm 30 – 60% lượng nhiên liệu tiêu thụ cho máy phát điện. Trong khi đó, thiết bị thu lưới cơ giới giúp giảm 2 – 3 lao động trên tàu, rút ngắn thời gian thao tác và nâng cao hiệu quả khai thác.

Định hướng 2026

Bước sang năm 2026 – năm đầu tiên triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030, ngành thủy sản đứng trước yêu cầu mới về phát triển xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh đó, hệ thống khuyến nông – khuyến ngư xác định tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, bám sát thực tiễn sản xuất và nhu cầu của người dân, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh trong ngành thủy sản.

Theo kế hoạch của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, hoạt động khuyến ngư thời gian tới sẽ tập trung chuyển giao các mô hình sản xuất hiệu quả, thân thiện với môi trường, ưu tiên những mô hình có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và phù hợp với điều kiện của từng vùng sinh thái.

Các mô hình nuôi trồng thủy sản sinh thái, nuôi kết hợp, nuôi tuần hoàn và nuôi ứng dụng công nghệ cao sẽ tiếp tục được nhân rộng. Không những vậy, khuyến ngư còn hướng tới việc tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, kết nối người dân với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khuyến nông, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn, kỹ năng tư vấn và khả năng tiếp cận công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất thủy sản hiện đại. Tăng cường ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và chuyển giao kỹ thuật, giúp người dân tiếp cận nhanh hơn với thông tin khoa học, thị trường và các tiến bộ công nghệ.

Ngành tiếp tục đẩy mạnh hợp tác công – tư (PPP) trong chuyển giao công nghệ và nhân rộng các mô hình sản xuất tiên tiến, đặc biệt trong lĩnh vực nuôi biển và nuôi tôm ven biển – những lĩnh vực được xác định có tiềm năng lớn trong chiến lược phát triển thủy sản của Việt Nam.
Ông Hoàng Văn Hồng – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chia sẻ, năm 2026 là năm khởi động kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030. Trong bối cảnh ngành thủy sản đứng trước yêu cầu cấp bách về phát triển xanh và thích ứng biến đổi khí hậu, hoạt động khuyến nông sẽ tiếp tục bám sát thực tiễn sản xuất, đồng hành cùng người dân, đồng thời triển khai các nhiệm vụ theo Chiến lược phát triển khuyến nông giai đoạn 2026 – 2030 và Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Khánh Nguyễn

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!