Kinh tế tuần hoàn thủy sản: Hướng đi tất yếu cho phát triển bền vững

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Trước sức ép của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường thế giới về tiêu chuẩn phát triển bền vững, ngành thủy sản Việt Nam buộc phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực thủy sản đang trở thành hướng đi tất yếu, giúp nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ hệ sinh thái biển và thực hiện các cam kết quốc gia về phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050

Trụ cột tăng trưởng bền vững

Trong bối cảnh thế giới đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường, kinh tế tuần hoàn được xem là hướng đi tất yếu nhằm cân bằng giữa tăng trưởng và bảo vệ hành tinh.

Trên thế giới, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc cũng đã ban hành chương trình “Chuyển đổi xanh trong thủy sản giai đoạn 2022 – 2031”, tập trung vào ba nội dung chính: Phát triển hệ thống nuôi trồng tuần hoàn khép kín, giảm sử dụng hóa chất và kháng sinh trong sản xuất, đồng thời tăng cường quản lý và truy xuất nguồn gốc. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc cũng thúc đẩy sáng kiến “Kinh tế biển bền vững”, kêu gọi các quốc gia tái cấu trúc ngành thủy sản theo hướng giảm rác thải nhựa đại dương, sử dụng hiệu quả năng lượng và tái chế phụ phẩm. Tại châu Âu, Na Uy là hình mẫu tiêu biểu khi áp dụng công nghệ tuần hoàn trong toàn bộ chuỗi sản xuất cá hồi từ nuôi trồng, chế biến đến tái chế phụ phẩm thành dầu cá, bột cá, phân bón hữu cơ và năng lượng sinh học. Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh công nghệ xử lý nước thải tuần hoàn, tái sử dụng nước nuôi trồng và sản xuất thức ăn từ phụ phẩm thủy sản. Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan và Indonesia đã hình thành chuỗi sản xuất tuần hoàn khép kín, kết hợp nuôi trồng với sử dụng năng lượng tái tạo, giảm phát thải và giảm ô nhiễm đại dương.

Kinh tế tuần hoàn không chỉ là một khái niệm mà là kiến trúc phát triển mới của Việt Nam trong chuyển đổi kép – chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Đây là con đường tất yếu để chúng ta giảm phụ thuộc tài nguyên, cắt giảm phát thải, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng và vật liệu, đồng thời mở ra thị trường, việc làm và chuỗi giá trị mới mang tính bền vững. Chính vì vậy, Việt Nam đã sớm xác định phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là một trong những trụ cột của tăng trưởng bền vững. Chiến lược Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lần đầu tiên đưa khái niệm “kinh tế tuần hoàn” vào khung pháp lý, tạo cơ sở cho các ngành sản xuất triển khai thực tế.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản cho rằng, trong hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam khẳng định vị thế là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế, đóng góp gần 4% GDP và tạo ra hàng triệu việc làm. Tuy nhiên, bối cảnh mới với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, cạnh tranh quốc tế và yêu cầu phát triển xanh đang đòi hỏi ngành phải chuyển đổi mạnh mẽ về mô hình tăng trưởng. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Vì vậy, để ngành thủy sản bứt phá, không thể tiếp tục đi theo mô hình sản xuất truyền thống, mà phải ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong toàn chuỗi giá trị – từ con giống, nuôi trồng, chế biến đến thương mại và quản lý.

Chia sẻ tại Hội nghị về bảo vệ môi trường trong các hoạt động thủy sản năm 2025, do Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Đại sứ quán Canada tại Việt Nam tổ chức ngày 26/11; ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, sau 3 năm triển khai Đề án 911 về bảo vệ môi trường trong hoạt động thủy sản giai đoạn 2021 – 2030, nhiều mô hình địa phương đã cho thấy cách tiếp cận sáng tạo, hiệu quả trong kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường thủy sản. Cục đã phối hợp tổ chức nhiều hội thảo về thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, xử lý chất thải và phụ phẩm thủy sản, tiết kiệm năng lượng và lộ trình giảm phát thải trong sản xuất. Mục tiêu trọng tâm là thúc đẩy hợp tác công – tư, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong toàn chuỗi sản xuất thủy sản từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến. Đồng thời, các bộ ngành như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an, các Hiệp hội, Viện, Trường, tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp cũng tích cực tham gia công tác giám sát môi trường, tuyên truyền giảm thiểu ô nhiễm, đổi mới công nghệ và hoàn thiện cơ chế quản lý.

Theo xu hướng kinh tế tuần hoàn, hàng loạt mô hình sáng tạo trong nước đang chứng minh tiềm năng lớn của kinh tế tuần hoàn nông nghiệp – nơi mọi sản phẩm bỏ đi đều có thể quay trở lại phục vụ sản xuất và tạo thêm lợi nhuận. Trong lĩnh vực thủy sản, xưởng chế biến cá đục của Công ty TNHH Thủy sản Tứ Hải (TP Hồ Chí Minh) là ví dụ điển hình. Hơn 80% sản lượng nơi đây là cá đục fillet xuất khẩu sang Nhật Bản. Trước kia, phần đầu và xương cá đục gần như không được coi trọng, chỉ bán vài nghìn đồng/kg cho cơ sở làm thức ăn gia súc. Giá trị thấp, lại dễ phân hủy gây ô nhiễm. Tuy nhiên, sau nhiều năm tìm hiểu thị trường và nghiên cứu dinh dưỡng, ông Đào Quốc Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Tứ Hải nhận ra xương cá đục rất giàu canxi, có thể trở thành sản phẩm thực phẩm cao cấp. Từ việc quan sát thói quen tiêu dùng ở Nhật Bản, ông phát triển sản phẩm xương cá đục làm sạch, sấy khô, tẩm mè hoặc lăn bột chiên. Món ăn giòn rụm này nhanh chóng được các nhà hàng Nhật Bản đón nhận. Từ thứ bị coi là phế phẩm, xương cá đục đã trở thành nguồn doanh thu mới, góp phần nâng tầm thương hiệu doanh nghiệp và thể hiện rõ cách tiếp cận tuần hoàn trong ngành thủy sản. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nếu được đầu tư bài bản, chế biến phụ phẩm thủy sản có thể mang lại 4 – 5 tỷ USD mỗi năm, thay vì chỉ 275 triệu USD như hiện nay.

Cần lộ trình khả thi

Bà Châu Thị Tuyết Hạnh, Phòng Nuôi trồng thủy sản, Cục Thủy sản và kiểm ngư nhận định, cần chú ý phát triển nuôi hữu cơ, nuôi sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu và đạt theo các tiêu chuẩn VietGAP, Global GAP, ASC… để nâng cao giá trị và phát triển bền vững. Đa dạng hóa sản phẩm và thị trường, phát triển sản phẩm chế biến sâu, giá trị cao đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, bền vững gắn với mở rộng xuất khẩu vào các thị trường mới, tiềm năng.

Sản xuất tôm – lúa giúp nông dân tăng thu nhập nhờ sản phẩm sạch, chi phí thấp và phù hợp với điều kiện sinh thái tự nhiên của vùng. Ảnh: Nhược Vy

Theo ông Ngô Tiến Chương, Đại diện Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) tại Việt Nam, để gia tăng giá trị cho ngành thủy sản, nhất là đối với con tôm, cần khai thác tốt phụ phẩm. Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo trong toàn chuỗi, không chỉ về công nghệ mà còn cải tiến về mô hình tổ chức sản xuất, quản lý, tiếp cận thị trường. Liên kết chặt chẽ giữa “4 nhà” để tổ chức phát triển, cùng chia sẻ dữ liệu, tri thức và lợi ích hài hòa. Phát triển chuỗi giá trị theo hướng tuần hoàn, tối ưu đầu vào – đầu ra, giảm chi phí, tạo giá trị cộng sinh giữa các mắt xích gồm nuôi, chế biến, tái chế và tiêu thụ.

Các chuyên gia cho rằng, để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và kinh tế tuần hoàn trong ngành thủy sản, các cơ quan chức cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, kiến thức cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân tiếp cận các nguồn tài chính xanh, quỹ đổi mới sáng tạo và các chương trình, dự án để khuyến khích thử nghiệm, học hỏi và nhân rộng mô hình hiệu quả.

Hoài Anh

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến: Xác định rõ xây dựng và phát triển chuỗi giá trị xanh là nhiệm vụ chiến lược. Chuỗi giá trị xanh phải gắn với mô hình sản xuất an toàn, thân thiện môi trường, bảo vệ đất đai, nguồn nước, đa dạng sinh học; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp giảm phát thải.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!