Vi sinh vật đang được nghiên cứu và áp dụng nhiều trong hoạt động NTTS; tuy nhiên, các thông tin về sự ảnh hưởng của các mức tỷ lệ cacbon:nitơ (C:N) lên sự đa dạng của hệ vi sinh vật trong nước, quá trình tăng trưởng và khả năng miễn dịch của tôm nuôi còn hạn chế.
Sử dụng hormone trong việc kích thích sinh sản nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong sản xuất giống các loài cá nuôi. Nắm bắt được các loại hormone và cách sử dụng là điều cần thiết.
Việt Nam là một trong những quốc gia NTTS lớn trên thế giới; trong vòng 10 năm trở lại đây, sản lượng tôm sú, cá tra đã tăng lên nhanh chóng.
Hàm lượng ôxy hòa tan (DO) là yếu tố quan trọng quyết định đến quá trình sinh trưởng, phát triển của thủy sản. Vì vậy, người nuôi cần thường xuyên theo dõi, thực hiện tốt các biện pháp quản lý để duy trì DO thích hợp cho ao nuôi.
Trước mỗi vụ nuôi cần chuẩn bị ao theo đúng khuyến cáo của cơ quan chuyên môn nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất và tránh các thiệt hại không đáng có xảy ra.
Hiện nay, việc thiết lập công thức thức ăn cho tôm còn đặt ra nhiều thách thức cho các nhà dinh dưỡng; bởi, hiệu quả tăng trưởng của tôm không chỉ phụ thuộc vào nguyên liệu, chất lượng dinh dưỡng thức ăn mà còn là công nghệ sản xuất của các nhà máy, trình độ quản lý trại nuôi và hệ thống nuôi tôm ở các mức độ (quảng canh, bán thâm canh hay thâm canh) khác nhau.
Vi tảo Scenedesmus là một trong những loài tảo nước ngọt đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái thủy vực. Từ lâu, Scenedesmus được xem là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao và số lượng nhiều cho động vật thủy sản, đặc biệt là động vật phù du.
Đối tượng nhiễm bệnh: Hầu hết các loài cá nước ngọt, thường gặp nhất ở các loài cá da trơn như cá lăng, cá nheo, cá trê. Cá lớn thường dễ mẫn cảm với bệnh hơn.
Lịch sử phát triển của nucleotide (NT) có nguồn gốc từ phụ gia thực phẩm, nên hàm lượng NT trong nguyên liệu thực phẩm luôn được phân tích kỹ. Tuy nhiên, lượng phân tích NT tương tự trong nguyên liệu thức ăn chăn nuôi – thủy sản còn tương đối ít và có sự chênh lệch lớn giữa các mẫu phân tích thậm chí các mẫu này có thành phần giống nhau.
Hiện nay, việc sản xuất nhân tạo con giống sò huyết đã thành công, tuy nhiên chưa đủ cung cấp cho thị trường. Bởi vậy, con giống vẫn phụ thuộc chủ yếu vào khai thác tự nhiên.