Từ cách đây hơn 50 năm, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility hay CSR) đã chính thức xuất hiện khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) năm 1953.
Cá linh ống (Cirrhinus jullieni Sauvage, 1878) là một trong những loài có đặc tính di cư sinh sản và là đặc sản của ĐBSCL. Mấy năm lại đây, nguồn cá linh đang cạn kiệt dần, không đủ cung cho thị trường, giá cá đắt đỏ. Sản xuất giống cá linh sẽ mở ra triển vọng mới cho thị trường. TSVN giới thiệu quy trình sinh sản nhân tạo loài cá này.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn Long Thành – Nhơn Trạch có tổng diện tích tự nhiên gần 18 nghìn ha. Ngoài việc đánh bắt các loại thủy sản nước lợ, nhiều người dân địa phương đã mở ra cách sản xuất mới, đó là tận dụng nguồn nước lợ để nuôi các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, như: tôm, cua…
Ở nơi mênh mông muôn trùng sóng dữ, các ngư dân đã cùng nhau viết nên những câu chuyện xúc động về tình người giữa biển khơi.
Để khắc phục những khó khăn và tận dụng được những thuận lợi trong nuôi tôm vụ đông, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia giới thiệu cùng bạn đọc TSVN các biện pháp kỹ thuật được áp dụng hình thức và kỹ thuật nuôi hiệu quả.
Không ai biết rõ con nghêu xuất hiện ở vùng biển Gò Công từ bao giờ, chỉ biết những năm trước đây, nhiều người đã khai thác và làm giàu từ nó. Chính vì nguồn lợi quá dồi dào nên nhiều người đã ví các sân nghêu như mỏ “vàng trắng”. Tuy nhiên, những năm gần đây, người nuôi nghêu lại đau đáu nỗi lo mỗi khi vào mùa thu hoạch; nhiều người mất ăn, mất ngủ, thậm chí bạc đầu vì nó.
Từ giữa năm 2014, tình trạng tôm nuôi bị chậm lớn diễn ra tại nhiều vùng nuôi tôm Việt Nam, gây thiệt hại đáng kể. Tôm chậm lớn do nhiều nguyên nhân, trong đó cần kể nhiễm vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP).
Quy chuẩn này được ban hành kèm theo Thông tư số 16/2015/TT-BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về điều kiện nuôi thủy sản. N
Bài báo này cung cấp các dẫn liệu mới về thành phần loài sán lá ký sinh ở 83 loài cá thuộc 33 họ cá biển ven bờ Việt Nam (đoạn từ Hải Phòng đến Quảng Bình), trong số 39 loài sán lá (thuộc 26 giống, 10 họ, 3 bộ) ghi nhận ký sinh ở cá biển ở vùng ven bờ từ Hải Phòng đến Quảng Bình, đã phát hiện 2 loài mới cho khoa học, bổ sung 29 loài mới cho khu hệ sán lá ký sinh ở cá biển Việt Nam.
Họ Cá khế là họ có số loài lớn, ở Việt Nam có khoảng 62 loài, trong đó có khoảng 23 loài cá kinh tế. Các loài cá trong họ Cá khế sống ở tầng nổi ven bờ, cá có kích thước tương đối thấp hoặc vừa, sức sinh sản cao, tập trung ở các khu vực nước nông, các cửa sông, những nơi phong phú thức ăn. Họ này phân bố rất rộng, dùng làm thực phẩm, có giá trị kinh tế tương đối lớn.