T6, 10/04/2026 04:45

Mở rộng điểm đến xuất khẩu, tôm hùm bứt phá

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Ngành thủy sản Việt Nam nói chung và con tôm nói riêng đang có cơ hội bứt phá khi xuất khẩu tăng mạnh đầu năm 2026, thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng. Tuy nhiên, rào cản kỹ thuật, thuế quan, biến động địa chính trị vẫn là những khó khăn mà ngành phải đối mặt.

Mở rộng xuất khẩu

Ngày 18/3, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, lần đầu tiên thủy sản Việt Nam mở rộng xuất khẩu tới 97 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Từ đầu năm đến nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,7 tỷ USD, tăng 20% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, Trung Quốc tiếp tục là điểm sáng với mức tăng 54%, đạt khoảng 513 triệu USD, trở thành thị trường lớn nhất của thủy sản Việt Nam. Tiếp đến là Nhật Bản với khoảng 233 triệu USD, tăng 5%; Hàn Quốc đạt 114 triệu USD, tăng 3%. Riêng thị trường Mỹ có dấu hiệu chững lại, đạt khoảng 209 triệu USD, giảm 3% do tác động từ thuế chống bán phá giá và các quy định kỹ thuật ngày càng khắt khe.

Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong đó, tôm giữ vai trò dẫn dắt với kim ngạch khoảng 690 triệu USD, tăng 20%; cá tra đạt 331 triệu USD, tăng 28%; mực và bạch tuộc đạt 111 triệu USD, tăng 23%. Đáng chú ý, nhóm nhuyễn thể có vỏ tăng mạnh nhất, khoảng 38 – 39%; cua, ghẹ và các loại giáp xác khác tăng 24%. Điều này cho thấy, nhu cầu đang dịch chuyển sang các sản phẩm có giá trị gia tăng và phân khúc đa dạng hơn.

Tuy nhiên, theo VASEP, mức tăng trưởng này chưa phản ánh hoàn toàn xu hướng bền vững, do một phần đến từ yếu tố kỹ thuật và tâm lý thị trường. Nhiều doanh nghiệp, nhà nhập khẩu đã đẩy mạnh giao hàng sớm để đón đầu các thay đổi chính sách, nhất là các quyết định liên quan đến thuế chống bán phá giá và quy định nhập khẩu tại Mỹ. Trong khi đó, ngành vẫn đối mặt áp lực từ rào cản thương mại, tiêu chuẩn môi trường khắt khe và chi phí logistics tăng cao do biến động địa chính trị.

Để duy trì đà tăng trưởng, VASEP kiến nghị Bộ Công Thương và hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tăng cường cảnh báo sớm rủi ro thị trường, giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, xuất khẩu. Đồng thời, cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại sang các thị trường tiềm năng như Brazil, Nam Mỹ và Nam Á nhằm giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, việc tăng cường kết nối qua các sự kiện chuyên ngành cũng được xem là giải pháp quan trọng để mở rộng đối tác, đa dạng hóa thị trường và củng cố tăng trưởng trong năm 2026.

Tôm hùm bứt phá

Xét theo mặt hàng, tôm vẫn giữ vai trò đầu tàu khi kim ngạch tháng 2/2026 đạt khoảng 310 triệu USD, tăng 17%; tính chung 2 tháng đạt 690 triệu USD, tăng gần 20% so cùng kỳ.

Điểm đáng chú ý trong cơ cấu sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam 2 tháng đầu năm là sự bứt phá mạnh mẽ của nhóm tôm hùm. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 259 triệu USD, tăng 65% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, tôm hùm xanh đạt 206 triệu USD, tăng 32% so cùng kỳ năm trước. Tôm hùm bông đạt gần 1,3 triệu USD, tăng 43%. Tôm hùm các loại khác đạt 52 triệu USD, tăng 6.138%.

Tôm hùm là mặt hàng được ưa chuộng tại Trung Quốc. Ảnh: Báo Người lao động

Tôm thẻ chân trắng vẫn là mặt hàng chủ lực với 341,5 triệu USD, chiếm 49,5% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm, chỉ tăng 4,5%. Tôm sú đạt 44,6 triệu USD, tăng 13%.

Ngành tôm hiện đang chịu sức ép mới khi Bộ Thương mại Mỹ công bố kết quả cuối cùng của kỳ rà soát hành chính lần thứ 19 (POR19) đối với tôm đông lạnh Việt Nam.

Theo đó, 2 bị đơn bắt buộc là STAPIMEX và nhóm Thông Thuận/TTCR bị áp mức biên độ 25,76%, trong khi 22 doanh nghiệp được hưởng thuế suất riêng rẽ ở mức 4,58%. Điều này làm gia tăng rủi ro chi phí và tâm lý thận trọng từ phía nhà nhập khẩu Mỹ trong ngắn hạn. Tính riêng trong tháng 2, xuất khẩu tôm sang Mỹ đã giảm gần 60% so cùng kỳ.

VASEP cho biết, từ ngày 1/1/2026, các lô hàng từ những nghề cá bị Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) từ chối công nhận tương đương theo quy định MMPA có thể bị hạn chế nhập khẩu vào Mỹ; đồng thời các nước bị từ chối một phần còn phải áp dụng Certification of Admissibility (COA) cho các lô hàng liên quan.

NOAA cũng nêu rõ Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia bị từ chối công nhận đối với một phần nghề cá, đồng nghĩa rủi ro tuân thủ đối với hải sản khai thác vào Mỹ đã tăng lên đáng kể trong năm nay. Trong tháng 2, xuất khẩu cá ngừ sang các thị trường chính giảm nhẹ, riêng xuất khẩu sang Mỹ giảm gần 26% so cùng kỳ.

Ngoài POR19 và MMPA, Nhà Trắng còn ban hành biện pháp thu thuế nhập khẩu bổ sung 10% đối với hàng nhập khẩu vào Mỹ trong 150 ngày, có hiệu lực từ 24/2/2026.

Tác động cụ thể tới từng nhóm thủy sản còn cần theo dõi thêm ở khâu thực thi và mã hàng áp dụng, nhưng rõ ràng đây là một yếu tố có thể khiến đơn hàng trong tháng 3 thận trọng hơn.

Nỗ lực giữ thị trường Mỹ

Trong một diễn biến liên quan, bên lề Hội chợ Thủy sản Bắc Mỹ, Cơ quan đại diện và Thương vụ Việt Nam tại Mỹ đã phối hợp với VASEP tổ chức buổi làm việc với đại diện Viện Thủy sản Quốc gia Mỹ (National Fisheries Institute – NFI) cùng các chuyên gia và doanh nghiệp trong ngành nhằm trao đổi về các vấn đề liên quan đến quy định của Mỹ đối với thủy sản nhập khẩu. Đặc biệt là việc thực thi Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển (Marine Mammal Protection Act – MMPA).

Tại buổi làm việc, đại diện phía Việt Nam đã trao đổi với NFI về tiến trình triển khai các yêu cầu của Mỹ theo MMPA, trong đó trọng tâm là quá trình rà soát kết quả so sánh tương đương (comparability finding) đối với một số nghề khai thác thủy sản của Việt Nam. Phía Việt Nam cho biết hiện còn một số nghề khai thác đang trong quá trình đánh giá và cần tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, dữ liệu để đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật của Mỹ.

Trong trao đổi, các chuyên gia của NFI đánh giá cao việc phía Việt Nam chủ động duy trì đối thoại trực tiếp với NOAA, đặc biệt là việc tổ chức các cuộc họp kỹ thuật nhằm làm rõ các nội dung liên quan đến hệ thống quản lý nghề cá, cơ chế giám sát hoạt động khai thác và các biện pháp giảm thiểu tác động đối với động vật có vú biển.

Các chuyên gia cũng cho rằng, một trong những thách thức hiện nay là việc thiếu dữ liệu dài hạn về tương tác giữa hoạt động khai thác thủy sản và các loài động vật có vú biển. Do nhiều chương trình quản lý và giám sát mới được triển khai gần đây nên chưa đủ thời gian để hình thành bộ dữ liệu đầy đủ phục vụ đánh giá của NOAA.

Trên cơ sở đó, phía NFI khuyến nghị Việt Nam tiếp tục làm rõ các biện pháp đang được triển khai nhằm tăng cường thu thập dữ liệu, trong đó có hệ thống nhật ký khai thác của ngư dân, chương trình quan sát viên, cũng như các biện pháp giảm thiểu bycatch (sản lượng đánh bắt không chủ đích).

Đồng thời, các chuyên gia cũng đề xuất xây dựng lộ trình cam kết cụ thể với NOAA, bao gồm các mốc báo cáo định kỳ về tiến độ thực hiện các chương trình giám sát và thu thập dữ liệu.

Đại diện NFI khẳng định, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà nhập khẩu thủy sản Mỹ đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng thủy sản toàn cầu. Đối với một số sản phẩm thủy sản quan trọng, Việt Nam hiện là nguồn cung quan trọng đối với thị trường Mỹ, đồng thời đóng vai trò bổ trợ cho nhu cầu tiêu dùng và chế biến tại thị trường này.

Cảnh Nghi

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!