(TSVN) – Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản Hồ Chí Minh ước đạt 468.486 tấn, tăng 3,1% so cùng kỳ; trong đó sản lượng nuôi trồng ước đạt 72.526 tấn (tăng 5,7%). Ngành cá cảnh tiếp tục là điểm sáng với số lượng sản xuất ước đạt 231,6 triệu con (tăng 6%) và kim ngạch xuất khẩu ước đạt 17 triệu USD (tăng 21,4%).
TP Hồ Chí Minh từ lâu được xem là cái nôi của nghề nuôi và kinh doanh cá cảnh tại Việt Nam. Từ thú chơi tao nhã, cá cảnh nay đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, góp phần không nhỏ vào giá trị kinh tế nông nghiệp đô thị của thành phố.
Theo Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư TP Hồ Chí Minh, toàn thành phố có gần 300 cơ sở và hộ nuôi cá cảnh, tập trung chủ yếu tại khu vực Củ Chi và Bình Chánh. Diện tích nuôi cá cảnh của thành phố hiện khoảng 90 ha, với các hình thức phong phú: từ hồ kính, hồ xi măng đến ao nuôi truyền thống. Mỗi năm, thành phố sản xuất hơn 100 triệu con cá cảnh, trong đó các dòng cá có giá trị cao như cá dĩa, cá Koi, cá ông tiên, cá neon hay cá bảy màu được ưa chuộng không chỉ trong nước mà còn tại nhiều quốc gia.
Kim ngạch xuất khẩu cá cảnh năm 2025 ước đạt 17 triệu USD. Ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường
Thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng, với hơn 50 quốc gia, trong đó châu Âu chiếm hơn 2/3 tổng sản lượng. Các doanh nghiệp như Công ty Cổ phần Sài Gòn cá kiểng, Công ty Thiên Đức, HTX Sinh vật cảnh Sài Gòn cá kiểng, HTX Sinh vật cảnh Châu Á – Thái Bình Dương, HTX Cá cảnh Sài Gòn Vina, Công ty Hồng Anh Arowana… đóng vai trò đầu tàu, đưa thương hiệu cá cảnh TP Hồ Chí Minh ra thế giới.
Bên cạnh đó, mô hình nuôi tôm nước lợ cũng đóng vai trò quan trọng. Tổng diện tích nuôi tôm trên địa bàn thành phố hiện duy trì ổn định ở mức khoảng 9.950 ha, với sản lượng năm 2025 ước đạt 23.484 tấn. Các mô hình nuôi chủ yếu gồm thâm canh, bán thâm canh và nuôi ứng dụng công nghệ cao.
Diện tích nuôi tôm công nghệ cao của thành phố đạt khoảng 262 ha, cho sản lượng hơn 10.135 tấn/năm. Hình thức nuôi phổ biến là ao nổi, hồ tròn lót bạt có mái che, nuôi trong nhà màng với mật độ từ 250 – 500 con/m². Nhờ áp dụng công nghệ, nhiều cơ sở đạt năng suất 30 – 50 tấn/ha/vụ và có thể nuôi từ 3 – 4 vụ/năm.
Trong bối cảnh thời tiết ngày càng cực đoan, nuôi tôm công nghệ cao không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn là “lá chắn” quan trọng để giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và tổn thất kinh tế.
Ở lĩnh vực khai thác, công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) tiếp tục được triển khai quyết liệt, tỷ lệ tàu cá khai thác vùng khơi lắp đặt thiết bị giám sát hành trình tại các khu vực trọng điểm đạt 98%. Toàn thành phố có 4.475 tàu cá, trong đó còn 207 tàu không đủ điều kiện hoạt động. Đáng chú ý, hiện nay nghề lưới kéo (nghề giã cào) chiếm tỷ lệ lớn nhất với 25% tổng số lượng tàu, nghề lưới rê chiếm 22%, nghề câu chiếm 14%, nghề lưới vây, nghề lồng bẫy và nghề hậu cần thủy sản cùng có tỷ lệ 5%, nghề chụp chiếm tỷ lệ 2% tổng số lượng tàu,…
Điều này cho thấy cơ cấu nghề khai thác hiện nay trên địa bàn thành phố đang mất cân đối, khi các nghề có tính xâm hại nguồn lợi như lưới kéo lại chiếm tỷ lệ lớn, trong khi các nghề khai thác chọn lọc, thân thiện với môi trường lại chiếm tỷ lệ thấp. Thực tế này không chỉ gây suy giảm nguồn lợi thủy sản mà còn ảnh hưởng đến tính bền vững của sinh kế ngư dân ven biển.
Trong giai đoạn 2026 – 2030, TP Hồ Chí Minh sẽ chi hơn 67 tỷ đồng, huy động từ ngân sách địa phương, nguồn xã hội hóa và các nguồn tín dụng ưu đãi hỗ trợ chuyển đổi nghề trong khai thác thủy sản và an sinh xã hội cho ngư dân.
Dự án đưa ra mục tiêu chuyển đổi khoảng 6% tổng số tàu cá hiện có, tập trung vào nhóm tàu khai thác ven bờ, vùng lộng và một phần tàu lưới kéo vùng khơi sang các nghề ít tác động đến môi trường như nghề câu, lưới rê, lưới vây, lồng bẫy hoặc dịch vụ hậu cần thủy sản.
Nguyễn Hằng