(TSVN) – Nghề nuôi cá biển mang lại giá trị kinh tế cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro do dịch bệnh. Việc nhận biết sớm nguyên nhân và áp dụng đúng biện pháp phòng, trị các bệnh nguy hiểm trên cá biển nuôi là yếu tố quan trọng giúp giảm thiệt hại và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Bệnh do vi khuẩn Streptococcus
Tác nhân chính gây bệnh là vi khuẩn Streptococcus iniae.
Dấu hiệu: Cá nhiễm bệnh bị tổn thương mắt, mù đục hoặc xuất huyết; xuất huyết trên da, đuôi, vây và hậu môn; da sẫm màu hoặc mất sắc tố, loét da, vây bị rách; cá bơi lội bất thường, không định hướng, bơi xoắn; nội quan sưng to, xuất huyết; giảm ăn hoặc bỏ ăn, cá nằm đáy hoặc nổi trên mặt nước, mất cân bằng; tỷ lệ cá chết có thể 70%.
Yếu tố nguy cơ: Tương tự như bệnh do Vibrio, bệnh do vi khuẩn Streptococcus iniae xuất hiện quanh năm và có liên quan mật thiết với các yếu tố môi trường và quá trình ương nuôi. Trong đó, yếu tố nhiệt độ nước cao vào mùa hè và biến động các yếu tố môi trường vào thời điểm giao mùa, mật độ thả cá cao, chất lượng con giống kém và hệ miễn dịch suy yếu của cá là các yếu tố nguy cơ khiến cho dịch bệnh dễ bùng phát.
Phòng bệnh: Việc trị bệnh do S. iniae gây ra trên cá biển bằng các loại thuốc kháng sinh chưa cho thấy hiệu quả do sự xuất hiện của các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Chính vì vậy, người nuôi cá cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, như chọn con giống sạch bệnh, khỏe mạnh; duy trì mật độ nuôi hợp lý, đảm bảo chất lượng nước (độ pH, ôxy hòa tan), tránh stress cho cá (vận chuyển, xử lý cá nhẹ nhàng), làm sạch môi trường và loại bỏ cá chết để ngăn ngừa mầm bệnh phát triển.
Phòng bệnh tổng hợp được xem là giải pháp hiệu quả và an toàn hiện nay. Ảnh: ST
Bệnh do vi khuẩn Vibrio
Dấu hiệu: Bệnh xảy ra trên các giai đoạn phát triển khác nhau của nhiều loài cá nuôi, đặc biệt vào lúc nhiệt độ nước cao. Ở giai đoạn cá hương, do khó quan sát nên các dấu hiệu bệnh lý thường khó được ghi nhận, cá thường kém bắt mồi, bơi mất phương hướng, tỷ lệ chết cao.
Ở giai đoạn cá giống và cá thương phẩm, cá nhiễm bệnh do vi khuẩn Vibrio thường có các dấu hiệu như: Thân có màu sậm màu, mang nhợt nhạt, xuất huyết trên da vây, vây, xuất hiện vết loét và thối cơ vây. Ở cá nhiễm nặng, bệnh lý có thể ghi nhận như mắt lồi, giác mạc mắt mờ đục, lồi mắt, mất cân bằng khi bơi. Xoang bụng ứ dịch, nội quan thường xuất huyết. Tỷ lệ chết 30 – 80%, tùy thuộc cỡ và loài cá.
Yếu tố nguy cơ: Bệnh do Vibrio liên quan mật thiết với nhiều yếu tố. Trong đó các yếu tố môi trường như nhiệt độ nước cao vào mùa hè và biến động các yếu tố môi trường vào thời điểm giao mùa mưa và mùa khô khiến hệ miễn dịch của cá suy yếu và dễ nhạy cảm với các tác nhân gây bệnh.
Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến quá trình thực hành nuôi như điều kiện vận chuyển cá giống không phù hợp làm cá stress, thả cá ra lồng bè, mật độ cao, phân cỡ, chất lượng con giống; đặc tính sinh học của cá và miễn dịch; đặc điểm của chủng vi khuẩn Vibrio.
Phòng bệnh: Phòng bệnh tổng hợp được xem là giải pháp hiệu quả và an toàn hiện nay. Đối với cá ở trại giống, các biện pháp bao gồm, thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường, tránh ô nhiễm hữu cơ và chất thải dư thừa bằng cách thay nước thường xuyên và vệ sinh bể ương, đáy ao/lồng nuôi.
Đối với cá nuôi thương phẩm, cần chọn giống sạch bệnh, khỏe mạnh; nuôi với mật độ phù hợp, hạn chế vận chuyển, xử lý cá nhẹ nhàng, tránh trầy xước làm mất lớp nhớt bảo vệ cá; bổ sung men vi sinh có lợi làm cân bằng hệ vi sinh và các chất kích thích miễn dịch để nâng cao sức đề kháng cho cá; một số bệnh do Vibrio hiện đã có vaccine được sản xuất bởi cơ quan như: Phân viện Thú y miền Trung, Đại học Nha Trang có thể giúp người dân chủ động miễn dịch cho cá, giảm nguy cơ bùng phát dịch bệnh.
Ngoài ra nghiên cứu của Đại học Nha Trang cho thấy, bổ sung dịch chiết tỏi đen lên men 40 – 80 g tỏi/kg thức ăn trong 6 tuần có hiệu quả trong việc nâng cao tỷ lệ sống của cá chim vây vàng chống lại bệnh do gây ra.
Bệnh do vi khuẩn Nocardia
Dấu hiệu: Bệnh do Nocardia là một bệnh mới trên cá biển người dân chưa nắm rõ các dấu hiệu, triệu chứng ban đầu, đến khi phát hiện thì cá đã bị nặng, nên các biện pháp trị bệnh không đem lại hiệu quả. Thân cá bệnh nhạt màu, giảm hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ. Cá lở loét, phồng rộp trên da, đốm trắng trên mang và nội tạng, khối u ở xương.
Bệnh xuất hiện ở mọi cỡ cá, phổ biến < 100 g ở cá chim vây vàng. Tỷ lệ chết 10 – 40% tùy cỡ cá.
Ở một số loài cá biển khác khi nhiễm bệnh, cá có các dấu hiệu như thân cá nhạt màu, cá giảm hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ. Bên ngoài cá không có biểu hiện đặc trưng của bệnh, ngoại trừ các khôi u ở đầu, vây ở cá thể nhiễm nặng. Đốm trắng trên mang và nội tạng, khối u ở xương. Bệnh xuất hiện phổ biến ở cá > 300 g với tỷ lệ chết 10 – 50%.
Yếu tố nguy cơ: Bệnh do Nocardia xuất hiện quanh năm và chủ yếu ở cá nuôi lồng bè. Bệnh phổ biến vào mùa mưa từ tháng 10 – 1 dương lịch hàng năm tại các tỉnh miền Trung. Bên cạnh đó, các yếu tố mật độ thả cá cao, chất lượng con giống kém và hệ miễn dịch suy yếu của cá là các yếu tố nguy cơ khiến cho dịch bệnh dễ bùng phát.
Phòng bệnh: Hiện chưa có vaccine phòng bệnh. Do đó, người nuôi cần chủ động áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp. Kiểm tra bệnh trên cá giống ở các loài nhạy cảm với Nocardia.
Bệnh do virus iridovirus
Tác nhân: Do Red sea bream iridovirus gây bệnh lý giống với bệnh hoại tử thận lách do virus (Infectious spleen and kidney necrosis virus – ISKNV).
Dấu hiệu: Cá bệnh lờ đờ, mang nhợt nhạt, thận sưng. Các tế bào trương to được quan sát trong thận, lạch, tim, mang, ruột
Phân bố: Bệnh xuất hiện ở Nhật và các quốc gia Đông và Nam Á.
Đặc điểm: Bệnh gây tỷ lệ chết cao ở cá giống so với giai đoạn cá thịt. Bệnh chủ yếu gây chết cao cho cá tráp đỏ (Pagrus major). Hơn 30 loài cá biển khác cũng bị nhiễm như các loài cá tráp, cá vượt, cá song, cá bơn. Bệnh lây truyền theo chiều ngang và chưa có nghiên cứu về lây theo chiều dọc.
Chẩn đoán: Sử dụng phương pháp PCR và phương pháp phát hiện kháng nguyên dựa vào kháng thể.
Phòng trị: Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp. Lựa chọn cá bố mẹ có trứng cá không nhiễm bệnh. Loại bỏ ngay những con cá có dấu hiệu yếu hay chết ra khỏi đàn cá. Nên thả nuôi cỡ giống lớn >15 cm, thả vào mùa nhiệt độ < 250C.
Hiện, vaccine bất hoạt thương mại đang được dùng cho một số loài cá như cá tráp đỏ, cá mú tại Nhật. Hiệu quả của vaccine trên một số loài cá khác chưa ổn định.
Bệnh hoại tử thận và lách do virus
Dịch tễ: Bệnh được phát hiện ở cá quanh năm nhưng tỷ lệ nhiễm cao ở nhiệt độ nước thấp. Bệnh có thể lây truyền theo chiều ngang: Giữa cá cùng đàn, môi trường nước. Bệnh được báo cáo đã xuất hiện ở một số nước châu Á.
Dấu hiệu: Cá bơi lờ đờ, giảm ăn, chìm ở đáy bể, thay đổi màu sắc cơ thể (sậm hoặc sáng màu). Mắt đỏ hoặc bị nổ, bụng trương to. Bệnh gặp ở tất cả giai đoạn của cá, phổ biến ở giai đoạn giống. Tỷ lệ chết 10 – 100% tùy loài cá.
Dấu hiệu mô học: Có sự khác nhau giữa các loài cá nhiễm. Phổ biến là sự có mặt của các tế bào phì đại trong gan, thận, lách, riêng cá chẽm có thoái hóa dạng hạt trong ống thận.
Chẩn đoán: Sử dụng các phương pháp PCR, qPCR.
Phòng trị: Áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp.
Hồng Thắm – Kim Tiến