(TSVN) – Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị yêu cầu các địa phương căn cứ tình hình thực tế tại các vùng nuôi để khuyến cáo, hướng dẫn khung lịch mùa vụ thả giống phù hợp. Chủ động xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức triển khai các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, phòng, chống thiên tai trong quá trình sản xuất.
Năm 2026, tỉnh Quảng Trị đặt mục tiêu tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 143.500 tấn, với định hướng phát triển theo hướng bền vững. Toàn tỉnh duy trì ổn định diện tích nuôi trồng gần 9.400 ha, đồng thời tăng cường quản lý, tái cơ cấu đội tàu khai thác và đẩy mạnh nuôi trồng tại các hồ chứa.
Cải tạo ao nuôi tôm để bước vào vụ nuôi mới hiệu quả (Ảnh minh họa). Ảnh: Tép Bạc
Hiện Quảng Trị có khoảng 2.320 ha nuôi tôm, tập trung chủ yếu ở các vùng ven sông và bãi ngang ven biển, với hai đối tượng chủ lực là tôm thẻ chân trắng và tôm sú, cho sản lượng hằng năm đạt khoảng 7.790 tấn. Nghề nuôi tôm đang từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ cao nhằm giảm thiểu rủi ro dịch bệnh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Để bảo đảm hiệu quả vụ nuôi tôm năm 2026, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư đã tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường ban hành khung lịch mùa vụ thả giống cụ thể theo từng vùng nuôi. Theo đó, đối với vùng nuôi ven sông, tôm thẻ chân trắng chính vụ được thả giống từ ngày 15/3 đến 30/6/2026. Đối với vùng nuôi trên cát có hạ tầng đảm bảo, thời gian thả giống có thể bắt đầu sớm hơn, từ ngày 15/2/2026.
Thời điểm này, người nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh đang khẩn trương cải tạo ao nuôi, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho vụ nuôi mới. Ông Trần Tiềm, hộ nuôi tại thôn Phan Hiền, xã Vĩnh Thủy, cho biết các hộ dân đều chú trọng khâu cải tạo ao, gia cố bờ bao và xử lý môi trường nhằm đảm bảo một vụ nuôi thành công. Nguồn tôm giống cũng được lựa chọn từ các cơ sở uy tín, có chứng nhận kiểm dịch đầy đủ.
Ngành nông nghiệp địa phương khuyến khích người nuôi xây dựng các mô hình tổ hợp tác, tổ cộng đồng tại các vùng nuôi tập trung nhằm nâng cao ý thức phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Các mô hình nuôi tiên tiến như nuôi tôm nhiều giai đoạn, thả giống cỡ lớn, áp dụng tiêu chuẩn VietGAP tiếp tục được thúc đẩy.
Đối với những vùng nuôi khó khăn hoặc thường xuyên xảy ra dịch bệnh, địa phương định hướng đa dạng hóa đối tượng nuôi như nuôi xen ghép tôm – cua – cá nâu hoặc phát triển các đối tượng có giá trị kinh tế như cá kình, cá mú trân châu trong ao lót bạt.
Song song đó, công tác quan trắc, cảnh báo môi trường và giám sát dịch bệnh sẽ được tăng cường tại các vùng nuôi trọng điểm. Ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với địa phương trong quản lý chất lượng con giống, kiểm soát thị trường, không để giống kém chất lượng lưu thông.
Nguyễn Hằng