(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 1111/QĐ-BNNMT về quy trình kiểm soát tàu nước ngoài khai thác, vận chuyển, chuyển tải thủy sản có nguồn gốc từ khai thác cập cảng Việt Nam để thực hiện các hoạt động tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh.
Mục tiêu của quy trình là xây dựng cơ chế kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đối với tàu nước ngoài khi cập cảng Việt Nam để thực hiện các hoạt động liên quan đến thủy sản có nguồn gốc khai thác. Qua đó, ngăn chặn các sản phẩm khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) thâm nhập vào chuỗi cung ứng.
Đối tượng áp dụng quy trình này bao gồm cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân có liên quan; các cảng biển được chỉ định; doanh nghiệp nhập khẩu, chế biến thủy sản; cùng các tàu nước ngoài khai thác, vận chuyển, chuyển tải và tàu hậu cần nghề cá cập cảng Việt Nam.

Ảnh minh họa. Ảnh: Báo Khánh Hòa
Một trong những điểm nhấn của quy trình là thiết lập chuỗi kiểm soát nhiều bước, bắt đầu từ trước khi tàu cập cảng. Theo đó, chủ tàu hoặc đại diện phải thông báo trước ít nhất 72 giờ và cung cấp đầy đủ hồ sơ như giấy đăng ký tàu, giấy phép khai thác, giấy phép chuyển tải, báo cáo chuyển tải, sơ đồ hầm hàng và các giấy tờ liên quan.
Trong vòng 72 giờ kể từ khi nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành thẩm định. Đồng thời tra cứu danh sách tàu IUU của các tổ chức quản lý nghề cá khu vực (RFMOs), xác minh thông số kỹ thuật tàu, đối chiếu lịch sử hành trình qua hệ thống AIS/VMS và kiểm tra tính hợp lệ của giấy phép hoạt động. Nếu phát hiện tàu có dấu hiệu vi phạm IUU, cơ quan chức năng sẽ từ chối cho cập cảng và thông báo cho các bên liên quan, bao gồm quốc gia mà tàu mang cờ và các tổ chức quốc tế. Ngược lại, tàu đủ điều kiện sẽ được cấp phép cập cảng và tiếp tục chịu kiểm tra thực tế.
Sau khi tàu cập cảng, cơ quan chức năng thành lập đoàn kiểm tra với tối thiểu hai thành viên để tiến hành kiểm tra trực tiếp. Nội dung kiểm tra bao gồm đối chiếu hồ sơ khai báo với thực tế trên tàu, khối lượng và thành phần loài thủy sản, ngư cụ, thiết bị, cũng như xác nhận số lượng bốc dỡ qua cảng.
Biên bản kiểm tra được lập theo mẫu thống nhất, làm cơ sở cho các quyết định tiếp theo. Trường hợp không phát hiện vi phạm, tàu được phép bốc dỡ hàng hóa theo quy định. Ngược lại, nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm IUU, cơ quan chức năng sẽ từ chối cho bốc dỡ và yêu cầu các lực lượng liên quan như Cảng vụ, Hải quan, Biên phòng phối hợp xử lý, thậm chí cưỡng chế tàu rời khỏi lãnh thổ Việt Nam (trừ trường hợp bất khả kháng vì lý do nhân đạo).
Các hành vi bị coi là vi phạm bao gồm khai thác không có giấy phép, giấy phép không hợp lệ; vận chuyển, chuyển tải trái phép; khai thác vượt hạn ngạch; hoặc tàu nằm trong danh sách IUU của các tổ chức quốc tế.
Theo Quyết định này, Cục Thủy sản và Kiểm ngư chủ trì toàn bộ chuỗi kiểm soát, từ tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, kiểm tra thực tế đến thông báo kết quả. Đồng thời, yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng như Cảng vụ Hàng hải, Hải quan, Bộ đội Biên phòng và chính quyền địa phương.
Các doanh nghiệp nhập khẩu và chủ tàu có trách nhiệm báo cáo sản lượng, thành phần loài sau khi bốc dỡ trong vòng 60 ngày, cung cấp đầy đủ hồ sơ và tuân thủ các quy định kiểm tra, giám sát. Bên cạnh đó, doanh nghiệp khai thác cảng phải bố trí nhân lực, thiết bị hỗ trợ cơ quan chức năng và báo cáo chi tiết sản lượng hàng hóa bốc dỡ.
Bảo Hân