(TSVN) – Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản đang đối mặt với nhiều rủi ro về dịch bệnh, chất lượng con giống và vật tư đầu vào, việc ban hành Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT được xem là bước đi cần thiết nhằm siết chặt quản lý, hướng tới phát triển bền vững.
Giải quyết “điểm nghẽn” trong sản xuất
Con giống kém chất lượng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thiệt hại cho người nuôi suốt thời gian qua. Nhiều hộ phản ánh, dù đã đầu tư lớn cho ao nuôi, thức ăn và chế phẩm sinh học, nhưng chỉ sau vài tuần thả giống, tôm chết hàng loạt do nhiễm bệnh hoặc suy yếu.
Bên cạnh đó, thị trường thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường cũng tồn tại không ít bất cập. Một số sản phẩm chưa được kiểm soát chặt về chất lượng, thậm chí có trường hợp ghi nhãn không đúng thực tế, gây khó khăn cho người nuôi trong việc lựa chọn. Việc truy xuất nguồn gốc còn hạn chế khiến cơ quan quản lý gặp khó khi xử lý vi phạm.

Thêm nhiều quy định mới về vấn đề giống thủy sản. Ảnh: ST
Chính vì thế, yêu cầu siết chặt quản lý từ khâu sản xuất giống đến lưu thông vật tư đầu vào ngày càng trở nên cấp thiết. Và Thông tư 16/2026/TT-BNNMT đã đưa ra nhiều quy định sát với thực tế sản xuất. Thông tư nêu rõ việc tăng cường kiểm tra điều kiện cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản. Không chỉ thực hiện kiểm tra trên hồ sơ, các đoàn kiểm tra chuyên ngành sẽ trực tiếp đánh giá điều kiện thực tế tại cơ sở.
Cùng với đó là quy định về thời hạn sử dụng giống bố mẹ đối với các đối tượng chủ lực như tôm thẻ chân trắng, tôm sú, cá tra. Thông tư này quy định cụ thể thời hạn sử dụng giống bố mẹ và buộc các cơ sở sản xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt.
Cụ thể, với tôm thẻ chân trắng bố mẹ, thời hạn sử dụng tối đa 140 ngày kể từ ngày nhập khẩu đối với tôm bố mẹ nhập khẩu đạt khối lượng tối thiểu 40 g/con đối với tôm đực, 45 g/con đối với tôm cái; Thời hạn sử dụng tối đa 120 ngày tính từ ngày cho sinh sản lần đầu đối với tôm bố mẹ sản xuất trong nước hoặc tôm bố mẹ nhập khẩu chưa đạt khối lượng theo quy định tại Thông tư này.
Với tôm sú bố mẹ, thời hạn sử dụng tối đa 80 ngày kể từ ngày nhập khẩu đối với tôm bố mẹ nhập khẩu đạt khối lượng tối thiểu 100 g/con đối với tôm đực, 120 g/con đối với tôm cái; Thời hạn sử dụng tối đa 60 ngày tính từ ngày cho sinh sản lần đầu đối với tôm bố mẹ sản xuất trong nước, tôm bố mẹ khai thác từ tự nhiên, tôm bố mẹ nhập khẩu chưa đạt khối lượng theo quy định.
Với cá tra bố mẹ, thời hạn sử dụng tối đa 60 tháng tính từ ngày cho sinh sản lần đầu và cho sinh sản không quá 2 lần/năm.
Nếu thực hiện tốt điều này sẽ loại bỏ được lo ngại về việc sử dụng giống bố mẹ quá thời gian khuyến cáo làm suy giảm chất lượng di truyền, khiến con giống yếu và dễ nhiễm bệnh.
Minh bạch hóa thị trường vật tư đầu vào
Một trong những thay đổi mang tính đột phá trong Thông tư 16 là yêu cầu cập nhật thông tin sản phẩm lên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia trước khi lưu thông trên thị trường. Từ thức ăn thủy sản đến chế phẩm xử lý môi trường đều phải có thông tin rõ ràng về nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và kết quả thử nghiệm.
Trong thực tế, điều này sẽ giúp người nuôi dễ dàng tra cứu, lựa chọn sản phẩm phù hợp, đồng thời tạo áp lực buộc doanh nghiệp phải minh bạch thông tin. Với cơ quan quản lý, việc có dữ liệu tập trung sẽ giúp nâng cao hiệu quả giám sát và truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố.
Ngoài ra, các quy định về xử lý sản phẩm vi phạm chất lượng như tiêu hủy, tái chế hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng cũng được cụ thể hóa, hạn chế tình trạng đưa hàng kém chất lượng quay trở lại thị trường.
Bên cạnh đó, Thông tư còn phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan. Trong đó, Cục Thủy sản và Kiểm ngư quản lý nhà nước về giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản trên phạm vi cả nước. Chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Đồng thời, kiểm tra về giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản trên phạm vi cả nước; kiểm tra trách nhiệm Sở Nông nghiệp và Môi trường về giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.
Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản trên địa bàn theo quy định. Doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phải chủ động cập nhật thông tin, báo cáo định kỳ và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, với cơ sở sản xuất, ương dưỡng, nhập khẩu giống thủy sản, phải thông báo bằng văn bản cho Sở Nông nghiệp và Môi trường nơi kinh doanh về việc sử dụng giống thủy sản bố mẹ để quản lý, giám sát thời hạn sử dụng.
Có thể thấy, việc siết chặt quản lý không chỉ nhằm xử lý vi phạm mà còn tạo nền tảng để tái cấu trúc ngành nuôi trồng thủy sản theo hướng minh bạch và bền vững hơn. Đây là yêu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng, giá trị và uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường xuất khẩu.
Bảo Hân