(TSVN) – Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT quy định về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản. Thông tư chuẩn hóa lại toàn bộ quy trình kỹ thuật và cách quản lý mới về phân loại rủi ro, tăng cường hậu kiểm và trách nhiệm trong chuỗi sản xuất – xuất khẩu.
Thông tư này quy định chi tiết khoản 3 Điều 53, khoản 2 Điều 55, khoản 2 Điều 56, khoản 2 Điều 57 và Điều 58 Luật Thú y (đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường) về danh mục động vật, sản phẩm động vật thủy sản thuộc diện phải kiểm dịch, miễn kiểm dịch; Danh mục động vật, sản phẩm động vật thủy sản thuộc diện phải phân tích nguy cơ trước khi nhập khẩu vào Việt Nam; Danh mục đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản.
Cùng đó là nội dung, trình tự, thủ tục kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản vận chuyển ra khỏi địa bàn cấp tỉnh; xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển cửa khẩu, kho ngoại quan, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam; kiểm dịch động vật thủy sản tham gia hội chợ, triển lãm, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật; kiểm dịch sản phẩm động vật thủy sản tham gia hội chợ, triển lãm; vận chuyển mẫu bệnh phẩm thủy sản.

Sản phẩm thủy sản xuất khẩu sẽ được kiểm soát chặt chẽ từ cơ sở. Ảnh: ST
Thông tư quy định chặt chẽ trình tự đăng ký, thẩm định để đưa cơ sở vào danh sách xuất khẩu. Hồ sơ, thời hạn xử lý, mẫu biểu và trách nhiệm của từng cơ quan đều được cụ thể hóa. Với những cơ sở xuất khẩu vào thị trường có yêu cầu cao, bắt buộc phải tổ chức thẩm định thực tế tại hiện trường.
Danh sách xuất khẩu được cập nhật hằng tháng hoặc theo yêu cầu của nước nhập khẩu; công khai trên cổng thông tin điện tử và có thể bị rút tên trong nhiều trường hợp như vi phạm an toàn thực phẩm, không duy trì điều kiện sản xuất, hoặc ngừng xuất khẩu kéo dài.
Thông tư còn quy định việc kiểm tra duy trì điều kiện an toàn thực phẩm đối với các cơ sở trong danh sách xuất khẩu. Theo đó, kiểm tra được thực hiện theo kế hoạch hằng năm, kết hợp kiểm tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm, cảnh báo từ nước nhập khẩu hoặc phản ánh từ thị trường. Đáng chú ý, hình thức kiểm tra không báo trước được áp dụng rộng rãi, trừ những trường hợp đặc thù cần bố trí sản xuất.
Đối với việc kiểm tra lô hàng xuất khẩu, Thông tư quy định ba phương thức thẩm định là kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường và kiểm tra giảm. Việc áp dụng phương thức nào phụ thuộc vào lịch sử tuân thủ của cơ sở, kết quả các lô hàng trước đó và yêu cầu của thị trường nhập khẩu.
Cơ sở mới tham gia chương trình hoặc từng vi phạm sẽ bị kiểm tra chặt, lấy mẫu kiểm nghiệm từng lô. Ngược lại, cơ sở duy trì tốt điều kiện an toàn thực phẩm trong thời gian dài sẽ được áp dụng chế độ kiểm tra giảm, qua đó tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đối với vấn đề truy xuất nguồn gốc, đặc biệt với thủy sản sống, tươi, ướp đá, Thông tư nhấn mạnh cơ sở thực hiện công đoạn cuối cùng phải tổ chức liên kết chuỗi, kiểm soát từ khâu nuôi trồng, khai thác đến chế biến và xuất khẩu. Mọi mắt xích trong chuỗi đều phải lưu giữ hồ sơ và cùng chịu trách nhiệm khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.
Thông tư này là bước đi cần thiết để giảm rủi ro bị cảnh báo, trả hàng hoặc áp dụng biện pháp kiểm soát tăng cường từ nước nhập khẩu. Đây là cơ sở để thủy sản Việt Nam giữ vững uy tín và mở rộng thị phần trên thị trường thế giới.
Bảo Hân