Tăng tốc vụ tôm mới

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Sau vụ nuôi tôm nước lợ năm 2025 đạt kết quả khả quan, nhiều địa phương tại ĐBSCL đã khẩn trương chuẩn bị cho vụ nuôi năm 2026. Vụ mới được khởi động sớm, kỳ vọng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của ngành tôm.

Giáp biển Đông, đẩy sớm vụ nuôi

Khác với thông lệ nhiều năm, vụ nuôi tôm nước lợ năm 2026 tại ĐBSCL khởi động sớm không phải do điều kiện môi trường thuận lợi, mà chủ yếu xuất phát từ tín hiệu tích cực của thị trường. Trong suốt năm 2025, giá tôm duy trì ở mức cao và tăng mạnh vào những tháng cuối năm, trong khi nguồn cung nguyên liệu có dấu hiệu thiếu hụt. Diễn biến này đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp và trang trại nuôi quy mô lớn tại các tỉnh, thành ven biển như Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau chủ động thả nuôi sớm nhằm đón cơ hội thị trường.

Tại vùng nuôi của Công ty CP Thực phẩm Sao Ta (TP Cần Thơ), đến cuối tháng 11/2025, doanh nghiệp đã hoàn tất thả giống vụ mới trên diện tích hơn 250 ha. Đến giữa tháng 2/2026, khu nuôi cũ cũng cơ bản hoàn thành việc thả giống.

Nhiều trang trại nuôi tôm thâm canh, ao lót bạt mật độ cao trên địa bàn cũng triển khai vụ nuôi sớm trước dự báo thiếu hụt nguyên liệu trong quý I/2026. Theo thống kê, đến cuối tháng 2/2026, các vùng nuôi tại TP Cần Thơ đã thả nuôi gần 11.000 ha tôm nước lợ, trong đó gần 2.000 ha tôm sú. Đây không phải là diễn biến bất ngờ, bởi trong vụ nuôi năm 2025, nhiều diện tích nuôi tôm sú bằng nguồn giống thế hệ mới đã đạt hiệu quả tốt cả ở ao đất lẫn ao lót bạt mật độ cao. Bên cạnh đó, từ nửa cuối năm 2025, giá tôm sú liên tục tăng trong khi nguồn cung chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường.

Tại Cà Mau, diện tích nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh đã thả giống khoảng 25.406 ha, chiếm hơn 70% kế hoạch; diện tích còn lại đang được cải tạo, chuẩn bị cho vụ nuôi mới. Trong khi đó, sau khi hợp nhất địa giới, tỉnh Vĩnh Long có khoảng 70.000 ha nuôi tôm nước lợ, với sản lượng năm 2025 ước đạt 334.000 tấn, thuộc nhóm địa phương có diện tích và sản lượng tôm lớn của khu vực ĐBSCL. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thả nuôi khoảng 71.300 ha, sản lượng 314.700 tấn, trong đó có 7.500 ha nuôi theo hướng công nghệ cao. Trước diễn biến giá tôm tăng và nguồn nguyên liệu khan hiếm vào cuối năm 2025, nhiều vùng nuôi công nghệ cao của tỉnh đã chủ động xuống giống sớm; đến giữa tháng 1/2026 đã có khoảng 1.600 ha được thả nuôi.

Biển Tây – Chạy đua cùng độ mặn

Trong khi tại các vùng nuôi giáp biển Đông, chỉ những trang trại và mô hình nuôi thâm canh, ao lót bạt mới có điều kiện xuống giống sớm nhờ chủ động nguồn nước mặn dự trữ từ vụ trước, thì tại khu vực ven biển Tây thuộc các tỉnh An Giang và Cà Mau, độ mặn năm nay xuất hiện sớm và gia tăng nhanh. Ngay sau Tết Nguyên đán, nhiều hộ nuôi đã khẩn trương cải tạo ao đầm, xử lý rơm rạ sau vụ lúa trên vuông tôm để kịp lấy nước mặn phục vụ thả giống.

Tại vùng Miệt Thứ của tỉnh An Giang, ngay từ đầu tháng 2, độ mặn tại nhiều khu vực nuôi đã đạt ngưỡng phù hợp cho việc cấp nước vào vuông tôm. Tuy nhiên, việc mặn đến sớm và tăng nhanh cũng khiến một số hộ nuôi gặp khó khăn trong khâu chuẩn bị, đặc biệt là huy động máy móc cải tạo ao đầm trong thời gian ngắn.

Ở các vùng nuôi ven biển và dọc sông Cái Lớn như U Minh Thượng, An Biên, Tây Yên, Đông Thái (An Giang), không khí vào vụ mới trở nên khẩn trương hơn khi ngay từ tuần đầu tháng 2, độ mặn đã đạt 12 – 15‰. Với nhiều năm kinh nghiệm canh tác mô hình tôm – lúa, anh Nguyễn Văn Mực (xã Tây Yên) cho biết: “Năm nay độ mặn đến sớm, thời tiết trước và sau Tết ít lạnh nên khá thuận lợi cho việc thả giống tôm sú quảng canh. Nếu không xảy ra mưa trái mùa và nắng nóng kéo dài, khả năng vụ tôm này đạt năng suất tốt là khá cao”.

Tuy vậy, một số hộ nuôi vẫn giữ tâm lý thận trọng. Ông Trần Tập, xã Vĩnh Hòa cho rằng những năm mặn lên sớm thường đi kèm nguy cơ nắng nóng gay gắt vào cuối tháng 3 đến tháng 4. Vì vậy, gia đình ông chủ động trữ thêm một ao nước ngọt để điều tiết độ mặn khi cần thiết.

Thận trọng trước nhiều biến động

Song song với không khí xuống giống khẩn trương tại nhiều vùng nuôi, giai đoạn đầu vụ cũng bắt đầu xuất hiện một số yếu tố bất lợi. Những ngày giữa tháng 3, nhiều biến động về thời tiết, thị trường và dịch bệnh đã lần lượt tác động đến hoạt động sản xuất của người nuôi tôm.

Trước hết là các đợt mưa trái mùa xảy ra trên diện rộng với lượng mưa khá lớn, khiến một số diện tích tôm nuôi bị thiệt hại. Ông Ngô Công Luận, Giám đốc hợp tác xã Nông ngư 14/10 Hòa Nhờ A, xã Hòa Tú (TP Cần Thơ) cho biết: “Diện tích tôm thả trước Tết Nguyên đán của hợp tác xã gần như thiệt hại hoàn toàn sau các trận mưa trái mùa vừa qua. Hiện độ mặn tại vùng nuôi chỉ dao động khoảng 2 – 3‰ nên chưa thể thả nuôi trở lại, buộc phải chờ khi độ mặn ổn định mới tiếp tục xuống giống”.

Một biến số khác từng được người nuôi kỳ vọng nhiều nhất là giá tôm nguyên liệu hiện cũng diễn biến theo chiều hướng kém tích cực. Giá tôm thẻ chân trắng cỡ 30 con/kg, đạt yêu cầu kiểm soát kháng sinh và màu sắc tại cổng nhà máy chế biến hiện chỉ dao động khoảng 135.000 – 140.000 đồng/kg; trong khi giá thu mua phổ biến tại ao nuôi, qua thương lái thu gom và ướp đá, chỉ ở mức 120.000 – 125.000 đồng/kg. So với thời điểm cuối năm 2025, mức giá này đã giảm khoảng 20.000 – 25.000 đồng/kg. Giá tôm sú thương phẩm cũng giảm đáng kể, kể cả đối với các cỡ tôm lớn.

Trong khi giá tôm nguyên liệu giảm, chi phí vật tư đầu vào phục vụ nuôi trồng lại có xu hướng tăng theo biến động giá nhiên liệu. Theo ghi nhận tại các xã Vĩnh Phong, Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên (An Giang) cho thấy giá thức ăn tôm phổ biến từ 560.000 – 900.000 đồng/bao (20 – 25 kg), tùy thương hiệu và công dụng. Với hình thức mua trả chậm đến cuối vụ, nhiều đại lý cộng thêm khoảng 10 – 15% so với giá thanh toán tiền mặt. Bên cạnh đó, giá tôm giống cũng có xu hướng tăng khiến chi phí vốn càng cao.

Ngoài áp lực chi phí, người nuôi tôm còn đối mặt với rủi ro thời tiết và dịch bệnh. Thời tiết diễn biến thất thường, nắng nóng xen kẽ mưa trái mùa dễ làm môi trường ao nuôi biến động, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát sinh. Đáng chú ý, bệnh do vi bào tử trùng EHP – tác nhân thường gặp trong các mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh – đã xuất hiện rải rác tại một số khu vực nuôi. Loại bệnh này tuy không gây chết hàng loạt ngay lập tức nhưng khiến tôm chậm lớn, kéo dài thời gian nuôi, làm tăng chi phí thức ăn và ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Sự xuất hiện của EHP trong giai đoạn đầu vụ vì vậy càng làm gia tăng nguy cơ rủi ro, khiến nhiều hộ nuôi tôm thêm thận trọng trong quá trình thả giống và chăm sóc.

Trước những khó khăn và thách thức đó, ngành thủy sản các địa phương đã và đang tăng cường triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ người nuôi. Các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật được tổ chức thường xuyên nhằm cung cấp thông tin về quy trình nuôi an toàn sinh học, quản lý môi trường ao nuôi và phòng, chống dịch bệnh hiệu quả.

Đồng thời, cơ quan chuyên môn cũng khuyến cáo người nuôi lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, sử dụng thức ăn hợp lý, cân đối khẩu phần, hạn chế lãng phí và giảm chi phí sản xuất. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, kết hợp theo dõi chặt chẽ diễn biến môi trường và dịch bệnh được kỳ vọng sẽ giúp người nuôi chủ động hơn trong sản xuất, từng bước nâng cao năng suất, giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu quả kinh tế trong vụ nuôi.

An Xuyên

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!