(TSVN) – Năm 2025, ngành thủy sản Việt Nam không chỉ duy trì được đà tăng trưởng ổn định trong bối cảnh nhiều thách thức, mà còn tiếp tục khẳng định rõ định hướng phát triển bền vững. Đây được xem là nền tảng quan trọng để toàn ngành bước vào giai đoạn tăng tốc 2026–2030, với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng dài hạn.
Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, giai đoạn 2021–2025, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam duy trì tăng trưởng ổn định và vượt mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Dù chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19 trong năm 2021, cùng những khó khăn kéo dài từ biến động thị trường, biến đổi khí hậu và chi phí đầu vào tăng cao, sản lượng thủy sản toàn ngành vẫn tăng bình quân khoảng 2,6%/năm.
Không chỉ tăng về quy mô, ngành thủy sản còn ghi nhận chuyển biến tích cực về chất lượng tăng trưởng. Cơ cấu sản xuất tiếp tục dịch chuyển đúng hướng chiến lược “giảm khai thác, tăng nuôi trồng”, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giá trị gia tăng. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt gần 11 tỷ USD năm 2022 và ước vượt 11 tỷ USD vào năm 2025, cho thấy hiệu quả rõ nét của định hướng phát triển chế biến sâu, đa dạng sản phẩm và nâng cao chất lượng.
Trong giai đoạn 2021–2025, sản lượng khai thác thủy sản giảm bình quân khoảng 0,9%/năm, duy trì ở mức 3,8–3,9 triệu tấn. Mặc dù mức giảm này chưa đạt mục tiêu của Chiến lược phát triển thủy sản (giảm 5–6%/năm để hướng tới sản lượng 2,8 triệu tấn vào năm 2030), song đây được đánh giá là nỗ lực đáng kể của ngành trong bối cảnh sinh kế ngư dân còn nhiều khó khăn và yêu cầu cấp bách về chống khai thác IUU theo khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC).
Cơ cấu sản phẩm khai thác tiếp tục phản ánh rõ đặc điểm của một quốc gia biển. Sản lượng khai thác thủy sản nội địa chỉ chiếm khoảng 5–6% tổng sản lượng khai thác, tương đương trên dưới 200 nghìn tấn/năm; trong khi khai thác hải sản chiếm tỷ trọng áp đảo 94–95%, đạt 3,6–3,8 triệu tấn/năm.
Song song với việc kiểm soát cường lực khai thác, ngành thủy sản tập trung rà soát, phân loại hệ thống cảng cá và khu neo đậu; tăng cường giám sát tàu cá, kiểm soát sản lượng qua cảng, truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác. Cơ chế quản lý hạn ngạch khai thác tiếp tục được hoàn thiện, gắn với lộ trình giảm số lượng tàu cá và thúc đẩy chuyển đổi nghề, bảo đảm sinh kế bền vững hơn cho ngư dân ven biển.
Trái ngược với xu hướng giảm của khai thác, nuôi trồng thủy sản tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Sản lượng nuôi trồng tăng từ 4,89 triệu tấn năm 2021 lên dự kiến 6,11 triệu tấn năm 2025, tương đương mức tăng bình quân 5,2%/năm.

Nuôi tôm công nghệ cao của Tập đoàn Việt Úc. Ảnh: Phan Thanh Cường
Tỷ trọng nuôi trồng trong tổng sản lượng thủy sản ngày càng tăng, chiếm 60,2% năm 2024 và ước đạt 61% năm 2025, khẳng định vai trò là trụ cột phát triển của toàn ngành. Các đối tượng nuôi chủ lực như cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng tiếp tục giữ vị thế quan trọng, gắn với các vùng sản xuất tập trung, hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ và thị trường xuất khẩu tương đối ổn định.
Cùng với mở rộng quy mô, ngành thủy sản chú trọng chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng công nghệ cao, sinh thái và tuần hoàn. Các mô hình nuôi tiết kiệm nước, giảm phát thải, nuôi tuần hoàn, nuôi kết hợp đa loài… từng bước được nhân rộng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Năm 2026 được xác định là năm đầu tiên của giai đoạn 2026–2030, giai đoạn tăng tốc nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển thủy sản bền vững. Theo kế hoạch, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước khoảng 1,326 triệu ha, cơ bản ổn định so với năm 2025; trong đó diện tích nuôi nước ngọt 390 nghìn ha, nuôi mặn lợ 936,9 nghìn ha, riêng diện tích nuôi tôm nước lợ khoảng 750 nghìn ha.
Tổng sản lượng thủy sản năm 2026 dự kiến đạt trên 10 triệu tấn, tăng khoảng 0,6% so với năm 2025. Trong đó, sản lượng khai thác khoảng 3,75 triệu tấn, giảm 2,1%; sản lượng nuôi trồng đạt 6,25 triệu tấn, tăng 2,2%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản phấn đấu đạt khoảng 11,5 tỷ USD. Các sản phẩm quốc gia được ưu tiên phát triển, với sản lượng cá tra khoảng 2 triệu tấn; tôm nước lợ 1,3 triệu tấn, gồm 300 nghìn tấn tôm sú và 1 triệu tấn tôm thẻ chân trắng.
Để hoàn thành các chỉ tiêu đề ra, ngành thủy sản tiếp tục triển khai đồng bộ Luật Thủy sản 2017, các chương trình, đề án và kế hoạch phát triển đã được phê duyệt; kiên định chủ trương “giảm khai thác, tăng nuôi trồng”, chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế thủy sản, từ tăng trưởng đơn giá trị sang tăng trưởng tích hợp đa giá trị.
Đối với nuôi trồng, trọng tâm là quản lý chặt chẽ môi trường, an toàn dịch bệnh và an toàn thực phẩm; phát triển nuôi biển công nghiệp, nuôi xa bờ, nuôi công nghệ cao, nuôi tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng IoT, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý sản xuất. Đồng thời, mở rộng áp dụng các hệ thống chứng nhận VietGAP, ASC, BAP, GlobalGAP, hữu cơ; chủ động đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản.
Trong khai thác, ngành tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý; tăng cường kiểm tra, giám sát và truy xuất nguồn gốc; tổ chức lại sản xuất theo tổ, đội và chuỗi liên kết; thúc đẩy chuyển đổi nghề, bảo đảm sinh kế bền vững cho ngư dân.
Với nền tảng kết quả đạt được trong năm 2025 cùng mục tiêu và giải pháp rõ ràng cho năm 2026, ngành thủy sản được kỳ vọng sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới – bền vững hơn, hiệu quả hơn và có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường quốc tế.
Thùy Khánh