(TSVN) – Bước vào “Kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vùng thủy sản quốc gia vẫn chịu nhiều thách thức. Thập kỷ qua đã chứng kiến 10% dân số phải di cư và tương lai tỷ lệ nghèo có thể tăng cao.
Báo cáo “Ở lại hay Di cư: Cuộc sống vùng ĐBSCL Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, vùng thủy sản quốc gia đang đứng trước một giai đoạn phát triển bước ngoặt. Nghiên cứu này khảo sát 5.000 hộ gia đình tại 13 địa phương ĐBSCL trước khi sáp nhập thành 6 địa phương vào giữa năm 2025. Khảo sát phỏng vấn chuyên sâu 3 nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương trước những biến đổi về môi trường và kinh tế, trong đó có 1.000 hộ thủy sản (thu thập thông tin về thách thức trong đánh bắt và nuôi trồng). Những thông tin về điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường của các hộ gia đình này là nguồn dữ liệu quan trọng để hiểu rõ các yếu tố tác động đến tình trạng nghèo, dễ bị tổn thương và sinh kế, đặc biệt khi ĐBSCL đang có nhiều biến đổi lớn về môi trường khí hậu và nhân khẩu học.
Vùng ĐBSCL có gần 18 triệu người, từ lâu được xem là “trái tim nông nghiệp” của Việt Nam, sản xuất hơn trên 50% sản lượng lúa gạo, lượng lớn thuỷ sản và trái cây. Tuy nhiên, vai trò kinh tế của vùng ĐBSCL đang suy giảm, tỷ lệ đóng góp vào GDP cả nước đã giảm từ gần 20% trước năm 2000 xuống còn 12,4% vào năm 2024. Hiện vùng đang đối mặt với tỷ lệ nghèo tăng, đặc điểm nhân khẩu học thay đổi và các mối đe dọa về khí hậu, môi trường ngày càng nghiêm trọng.
Tỷ lệ nghèo giai đoạn 2018 – 2022 tăng bởi nguyên nhân chính là thiếu nước nghiêm trọng. Đợt hạn hán năm 2019 – 2020, một trong những đợt hạn hán nghiêm trọng nhất được ghi nhận tại Việt Nam, xảy ra chỉ vài năm sau đợt hạn hán 2015 – 2016, khiến người dân không có đủ thời gian để phục hồi và xây dựng lại cuộc sống. Tình trạng xâm nhập mặn kéo dài ảnh hưởng lớn đến phát triển nông nghiệp ven biển. Để ứng phó với xâm nhập mặn, nhiều hộ dân đã áp dụng luân canh cây trồng hoặc nuôi trồng thủy sản. Một số mô hình nuôi cá, tôm trong ruộng lúa được áp dụng để nâng cao năng suất, lợi nhuận và khả năng thích ứng. Những biện pháp này giúp ổn định thu nhập, mở ra hướng đi đầy hứa hẹn trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhưng chưa đủ để giảm nghèo.
Các hộ gia đình làm nghề thủy sản phải đối mặt với mức độ rủi ro môi trường cao, đặc biệt là hạn hán và xâm nhập mặn. Các loại thủy sản nuôi trồng cũng thay đổi tùy theo độ mặn của nước. Rủi ro khí hậu và kinh tế là những cú sốc phổ biến, đặc biệt đối với các hộ nuôi trồng thủy sản vì đối mặt với thiệt hại do nắng nóng, dịch bệnh, ô nhiễm, biến động giá cả. Các hộ thủy sản thường có trình độ học vấn thấp và ít tài sản nên dễ bị tổn thương. Đánh bắt thủy sản chủ yếu quy mô nhỏ, các hộ gia đình đánh bắt trên sông sử dụng thuyền nhỏ và có sản lượng đánh bắt, thu nhập thấp hơn so với các hộ đánh bắt trên biển.
Hệ quả, tỷ lệ hộ nghèo ĐBSCL có chiều hướng tăng. Trong thập kỷ qua, gần 1,7 triệu người rời ĐBSCL, chủ yếu do ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu. Khoảng 14% hộ gia đình có ít nhất một người di cư và đa số ra đi để tìm kiếm việc làm.
Nhìn về tương lai, hạn hán được xem là mối đe dọa thường xuyên và gây thiệt hại nặng nề nhất đối với phúc lợi hộ gia đình ở ĐBSCL. Các mô phỏng cho thấy, trong một năm bất kỳ, gần 20% dân số có thể bị ảnh hưởng bởi hạn hán và trung bình mỗi hộ gia đình có thể đối mặt với 5 đợt hạn hán trong giai đoạn dự báo, mỗi đợt làm giảm thu nhập khoảng 9%.
Đặc điểm địa lý của hộ gia đình làm nghề thủy sản (Những hộ có ít nhất một thành viên làm nghề đánh bắt, nuôi trồng hoặc chế biến thủy sản) theo địa giới 13 địa phương cũ trước khi sáp nhập thành 6 địa phương giữa năm 2025
“Xâm nhập mặn có lẽ là mối lo ngại lớn nhất trong số các cú sốc khí hậu. Xâm nhập mặn đang tạo ra mối đe dọa ngày càng lớn đối với sinh kế, đặc biệt trong bối cảnh mực nước biển dâng và sụt lún đất. Kết quả mô phỏng cho thấy sự xâm nhập mặn gây suy giảm thu nhập đáng kể và kéo dài, khiến tỷ lệ nghèo tăng mạnh và đạt đỉnh vào khoảng năm 2035, sau đó mới ổn định nhưng vẫn cao hơn nhiều so với kịch bản cơ sở. Khác với các cú sốc khí hậu khác có thể xảy ra theo từng đợt hoặc có thể phục hồi, xâm nhập mặn gây tác động lâu dài do ảnh hưởng đến sản xuất lúa, nguồn nước ngọt và khả năng phục hồi kinh tế nói chung ở các vùng ven biển.
Ngay cả trong các kịch bản trung bình, tỷ lệ nghèo vào năm 2050 vẫn cao hơn khoảng 5 điểm phần trăm so với mức năm 2024, cho thấy tính chất dai dẳng của rủi ro này và khả năng làm kéo dài tình trạng nghèo ở nông thôn. Do quy mô và tính dai dẳng của xâm nhập mặn, các nỗ lực thích ứng tập trung vào việc bảo vệ hoặc phục hồi đất có thể ngày càng tốn kém nhưng hiệu quả lại giảm dần. Vì vậy, quan trọng hơn là hỗ trợ người dân thay vì chỉ cố gắng cứu giữ đất sản xuất”, báo cáo của WB nhấn mạnh.
Đối với nhiều người, nhất là những người trẻ và có khả năng dịch chuyển cao, những rủi ro nêu trên có thể đồng nghĩa với việc phải hoàn toàn rời khỏi vùng ĐBSCL. Di cư đang trở thành một chiến lược thích ứng với thực tế. Ngay cả khi các kịch bản khí hậu cực đoan nhất không xảy ra.
Báo cáo của WB xác định 04 lĩnh vực chính sách ưu tiên để phát triển ĐBSCL trong bối cảnh tương lai còn nhiều bất ổn. Đây là những chiến lược cần thiết để đảm bảo người dân trong vùng có thể thích nghi, phục hồi và phát triển, dù họ tiếp tục sinh sống tại ĐBSCL hay di cư khỏi vùng.
Một, đầu tư vào giáo dục và phát triển kỹ năng để mở rộng cơ hội thành công cho tất cả mọi người, đặc biệt là thanh niên.
Hai, hiện đại hóa và chuyển đổi nền nông nghiệp theo hướng giảm sử dụng lao động, tăng khả năng thích ứng và tạo ra lợi nhuận lớn hơn.
Ba, đầu tư vào cơ sở hạ tầng địa phương để thu hút doanh nghiệp, tăng cường tính kết nối và giảm chi phí giao dịch cho người nông dân.
Bốn, thúc đẩy di cư an toàn, tự nguyện, coi đó là một chiến lược thích ứng cho những người mong muốn tìm kiếm cơ hội ngoài vùng ĐBSCL.
Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh đến “Giáo dục cho tương lai”. Thời gian qua, chi tiêu cho mỗi học sinh ở ĐBSCL thấp hơn gần 12% so với mức trung bình toàn quốc (7,38 triệu đồng so với 8,37 triệu đồng). Mức đầu tư chưa thỏa đáng làm giảm cơ hội phát triển của địa phương và hạn chế khả năng chống chịu của quốc gia. Cần tăng đầu tư cho giáo dục, hệ thống giáo dục ở ĐBSCL phải được hiện đại hóa, phù hợp với bối cảnh đang thay đổi trong vùng. Áp dụng các thực hành nông nghiệp thông minh để ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời, các nền tảng học tập số sẽ giúp tiếp cận cộng đồng vùng sâu vùng xa, chưa được tiếp cận đầy đủ dịch vụ giáo dục. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, giáo dục không chỉ là học tập mà còn là công cụ thúc đẩy chuyển đổi. Chuyển đổi khỏi những sinh kế bấp bênh, năng suất thấp, sang tạo nguồn thu nhập đa dạng, ổn định và năng động hơn trong tương lai.
Giáo dục gắn với quá trình chuyển đổi nông nghiệp và thủy sản, nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi với hệ thống hiện đại, tăng cường ứng dụng công nghệ số. Sử dụng nguồn lực công kết hợp khai thác đầu tư tư nhân và tập trung vào thiết kế hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, có tính đến xâm nhập mặn, ngập lụt và sụt lún mang đến cơ hội cho các địa phương, từng ngành, từng gia đình.
Sáu Nghệ