Rừng ngập mặn: “Vườn ươm” sinh vật biển, lá phổi xanh cho tương lai

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Rừng ngập mặn đóng vai trò như “lá phổi xanh” của vùng ven biển, hấp thu lượng lớn CO2, qua đó góp phần quan trọng vào nỗ lực giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu. Không những thế, hệ sinh thái rừng ngập mặn còn là nơi ương dưỡng tự nhiên cho nhiều loài thủy sinh vật, cung cấp nguồn thức ăn, nơi trú ẩn và môi trường sinh sản thiết yếu.

Theo các tài liệu tổng hợp thì năm 1940, diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam khoảng 400.000 ha đã suy giảm chỉ còn khoảng 150.000 – 155.000 ha vào đầu thế kỷ XXI. Tuy nhiên, một số báo cáo gần đây cho thấy hiện nay có khoảng 200.000 ha rừng ngập mặn trên toàn quốc và được phân bố tại 28 tỉnh, thành ven biển; trong đó tập trung chủ yếu ở ven biển Nam Bộ, ven biển Đông Bắc (chủ yếu Quảng Ninh) và ven biển Đồng bằng sông Hồng/Đồng bằng Bắc Bộ.

Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn. Nền tảng pháp lý gồm Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Bảo vệ môi trường 2020, theo đó rừng ngập mặn được xác định là hệ sinh thái quan trọng, cần ưu tiên bảo tồn và phục hồi. Luật Lâm nghiệp cho phép phân loại rừng ngập mặn là rừng đặc dụng hoặc phòng hộ ven biển tùy mục tiêu quản lý, đồng thời đặt ra nguyên tắc bảo vệ – phục hồi – sử dụng bền vững và phân định trách nhiệm giữa Nhà nước, địa phương và cộng đồng. Luật Bảo vệ môi trường nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nhạy cảm và thẩm định/đánh giá tác động môi trường chặt chẽ đối với các dự án nằm trong hoặc gần khu vực rừng ngập mặn.

Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn, đặc biệt Nghị định 156/2018/NĐ-CP, quy định cụ thể về quản lý rừng phòng hộ ven biển, phục hồi rừng suy thoái, cùng tiêu chí và cơ chế giao đất/giao rừng gắn với trách nhiệm bảo vệ của cộng đồng và các tổ chức liên quan. Song song với khung luật, Nhà nước triển khai các chương trình quy mô lớn như Chương trình 661 (trồng mới và phục hồi 5 triệu ha rừng) và Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững (2016 – 2020; 2021 – 2025) nhằm gia tăng diện tích, nâng chất lượng rừng và cải thiện năng lực quản trị.

Trong các chiến lược về biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học (Chiến lược quốc gia về BĐKH 2021; Chiến lược đa dạng sinh học đến 2030, tầm nhìn 2050), rừng ngập mặn được nhìn nhận vừa là bể hấp thụ carbon, vừa là tuyến phòng hộ tự nhiên trước xói lở, bão và triều cường. Các chính sách về phòng, chống thiên tai và nước biển dâng, đặc biệt Nghị quyết 120/NQ-CP (2017) về phát triển bền vững ĐBSCL và Chiến lược quốc gia phòng, chống thiên tai 2021 – 2030, tiếp tục nhấn mạnh vai trò phòng hộ của rừng ngập mặn và khuyến khích các mô hình sinh kế ít làm suy giảm rừng như tôm – rừng bền vững. Ở cấp quốc tế, Việt Nam tham gia các cơ chế như REDD+ và cam kết Net-Zero 2050, trong đó rừng ngập mặn là một hợp phần quan trọng của chiến lược giảm phát thải và tăng hấp thụ carbon dài hạn.

Tuy vậy, dù hệ thống luật, nghị định và các chính sách đã tạo ra một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn, xu hướng suy giảm rừng ở nhiều địa phương vẫn chưa được chặn. Nhìn chung, rừng ngập mặn suy giảm chủ yếu do ba nhóm động lực: (1) chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng để phát triển nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi tôm); (2) khai thác gỗ và tận thu lâm sản trong rừng ngập mặn; và (3) mở rộng đô thị hóa và phát triển hạ tầng/khu du lịch ven biển.

Các thống kê và nghiên cứu gần đây cho thấy giai đoạn 1980 – 2000 là thời kỳ suy giảm tương đối nhiều. Giai đoạn này đa số rừng ngập mặn bị chuyển đổi chủ yếu sang nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, đô thị hóa và du lịch ven biển. Ở một số vùng, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long mức suy giảm diễn ra mạnh từ cuối thập niên 1980 đến đầu những năm 2000; trong đó các tỉnh như Sóc Trăng (cũ) và Bạc Liêu (cũ) là những địa bàn chịu tác động đáng kể. Tuy nhiên, kể từ đầu thế kỷ XXI, đã xuất hiện dấu hiệu phục hồi cục bộ: các chương trình trồng mới, phục hồi rừng tái sinh và các can thiệp quản lý đã góp phần làm chậm lại tốc độ suy thoái ở một số nơi. Dù vậy, xét trên bình diện tổng thể, diện tích rừng ngập mặn hiện nay vẫn thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước khoảng năm 1995.

Nếu so sánh giữa việc chuyển đổi rừng ngập mặn sang các mô hình kinh tế như hiện nay và duy trì quản lý tốt hệ sinh thái rừng ngập mặn thì:

Chuyển đổi rừng ngập mặn sang nuôi tôm thường tạo dòng thu nhập trước mắt, nhưng kéo theo chi phí môi trường đáng kể. Khi rừng bị suy giảm, các chức năng sinh thái như lọc nước, giữ bùn và ổn định nền đáy và đồng hóa/giảm tải chất hữu cơ bị suy yếu; vì vậy hệ thống ao nuôi dễ rơi vào trạng thái tích tụ ô nhiễm, gia tăng rủi ro dịch bệnh và suy giảm năng suất sau một số chu kỳ sản xuất. Đồng thời, mất rừng làm tăng xói lở bờ biển, suy giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản, đồng thời làm suy giảm năng lực hấp thụ và lưu trữ carbon của hệ sinh thái rừng ngập mặn, qua đó làm giảm khả năng chống chịu của vùng ven biển trước biến đổi khí hậu.

Ngược lại, bảo vệ và quản lý bền vững rừng ngập mặn giúp duy trì nền tảng sinh thái cho vùng ven biển và sinh kế địa phương. Rừng ngập mặn là nơi cư trú và ương dưỡng của nhiều loài thủy sinh, góp phần duy trì quần thể đàn cá, giáp xác tự nhiên, từ đó bổ trợ nguồn lợi thủy sản và an ninh sinh kế. Hệ thống rễ dày đặc góp phần giảm năng lượng sóng, ổn định bờ, giữ trầm tích và cải thiện chất lượng nước, tạo điều kiện cho các mô hình sinh kế thích ứng như tôm – rừng (kết hợp bảo tồn và sản xuất). Đặc biệt, rừng ngập mặn thuộc nhóm hệ sinh thái có hiệu suất hấp thụ và lưu trữ carbon cao, nên có vai trò quan trọng trong chiến lược giảm phát thải và thích ứng dài hạn của cộng đồng ven biển.

Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào phát triển nuôi trồng thủy sản mà vẫn duy trì được hệ sinh thái rừng ngập mặn?

Để trả lời câu hỏi này, cần xem xét đồng thời ba nhóm đối tượng/quá trình có quan hệ tương tác trực tiếp trong vùng ven biển: (i) rừng ngập mặn đóng vai trò “vườn ươm” của sinh vật biển, cung cấp dịch vụ hệ sinh thái quan trọng và là bể hấp thụ carbon (blue carbon); (ii) vùng nuôi tôm/nuôi thủy sản tạo giá trị kinh tế, đóng góp việc làm và sinh kế cho cư dân ven biển; (iii) phát triển đô thị ven biển tạo động lực tăng trưởng nhưng cũng dễ phát sinh xung đột sử dụng đất và gây áp lực lên môi trường.

Về yêu cầu sinh thái – hạ tầng, rừng ngập mặn cần chế độ thủy triều ra vào và trao đổi nước tự nhiên để duy trì độ mặn, bùn đáy và chu trình vật chất; nếu dòng chảy bị bít tắc hoặc nước bị tù đọng kéo dài, hệ rừng có nguy cơ suy thoái. Vùng nuôi tôm lại đòi hỏi nguồn nước đầu vào đủ sạch và khả năng kiểm soát chất lượng nước trong ao/đầm; còn vùng trồng rong biển cần chủ động nguồn dinh dưỡng hữu cơ ở mức phù hợp. Khu đô thị ven biển yêu cầu nền đất ổn định, điều kiện thoát nước tốt, nhưng lấn chiếm các không gian sinh thái nhạy cảm và đất sản xuất.

Trên cơ sở đó, có thể định hướng phân vùng không gian theo vùng triều nhằm giảm xung đột và tối ưu hóa chức năng sinh thái – kinh tế: 1) vùng hạ triều và trung triều ưu tiên cho phát triển/phục hồi rừng ngập mặn; 2) vùng cao triều thấp và trung triều cao phù hợp cho trồng rong biển kết hợp nuôi tôm quảng canh sinh thái (mô hình nuôi thân thiện gắn với rừng ngập mặn, ví dụ tôm – rừng); 3) vùng cao triều cao và trên triều phù hợp hơn cho nuôi tôm, cá theo hình thức thâm canh và hình thức công nghiệp, thuận lợi cho việc kiểm soát nước thải, chất thải và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Vì nuôi thủy sản thực chất là “nuôi nước”, quy hoạch cần dựa trên hai nhóm chỉ tiêu cốt lõi: (1) sức tải môi trường/sức chứa sinh học của hệ thống theo một đơn vị thể tích nước; (2) nhu cầu nước và diện tích để hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chuỗi giá trị. Chẳng hạn, theo ước tính, để sản xuất 1 kg tôm cần khoảng 3,5 – 4 m³ nước và năng suất thâm canh có thể đạt khoảng 20 tấn/ha. Nếu các giả định này được đáp ứng trong điều kiện quản lý môi trường phù hợp, thì 1 ha nuôi thâm canh có thể tạo sản lượng tương đương với diện tích rất lớn nuôi quảng canh/cải tiến; hàm ý rằng tăng năng suất trên đơn vị diện tích (đi kèm kiểm soát môi trường) có thể góp phần giảm áp lực chuyển đổi thêm đất rừng.

Đối với đô thị ven biển, phát triển là cần thiết nhưng nên ưu tiên các vị trí ít nhạy cảm sinh thái (ví dụ các vùng đồi, nền đất ổn định, hoặc khu vực đã được quy hoạch phù hợp), nhằm giảm xung đột với rừng ngập mặn và các ngành kinh tế khác.

Từ các phân tích trên, có thể đặt vấn đề, đã đến lúc cần định hình một khung quy hoạch không gian ven biển chặt chẽ hơn, tích hợp giữa phát triển nuôi thủy sản và phục hồi, tái tạo rừng ngập mặn, để khắc phục tình trạng “luật, nghi định, chính sách trên giấy” và khoảng cách không nhỏ giữa mục tiêu và thực thi. Trọng tâm không chỉ là ban hành thêm luật, nghị định, chiến lược hay chương trình, mà là cơ chế thực thi, giám sát và khuyến khích kinh tế đủ mạnh để bảo đảm các mục tiêu bảo tồn được hiện thực hóa trong thực tiễn.

Tóm lại, để giảm xung đột giữa các ngành kinh tế ven biển đồng thời bảo vệ rừng ngập mặn, cần định hướng phát triển dựa trên phân vùng không gian và cơ chế quản trị rõ ràng. Theo đó, nên giảm dần nuôi thủy sản quảng canh và quảng canh cải tiến, đồng thời tăng tỷ trọng nuôi thâm canh/nuôi công nghiệp đi kèm kiểm soát nghiêm chất lượng nước và tải lượng môi trường. Tăng sản lượng nên dựa vào nâng năng suất, không dựa vào mở rộng diện tích. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy các mô hình xen canh/đa canh giữa động vật thủy sản – rong biển – rừng ngập mặn, trong đó nước thải được xử lý và tái sử dụng làm nguồn dinh dưỡng cho rong biển nhằm giảm ô nhiễm và nâng hiệu quả sử dụng tài nguyên. Song hành với tái cấu trúc sản xuất, phục hồi rừng ngập mặn là then chốt vì giúp tái tạo “vườn ươm” tự nhiên cho nhiều loài cá, giáp xác, phục hồi sinh cảnh và chu trình dinh dưỡng, qua đó duy trì đa dạng sinh học và hỗ trợ phục hồi nguồn lợi. Vì vậy, bảo vệ rừng ngập mặn không chỉ là mục tiêu sinh thái mà còn là điều kiện trực tiếp để nâng cao tính bền vững của nghề cá và nuôi trồng thủy sản trong dài hạn.

Anh Vũ

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!