(TSVN) – Cùng với định hướng phát triển bền vững và yêu cầu khắt khe từ thị trường, ngành thủy sản đã và đang chuyển đổi từ dựa vào tài nguyên sang mô hình kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, xanh hóa chuỗi giá trị. Đây cũng là xu thế tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Nhiều năm nay, mô hình nuôi tôm sinh thái tại ĐBSCL phát triển rất mạnh. Ảnh: ST
Con số tăng trưởng dương về cả sản lượng và giá trị xuất khẩu trong năm 2025 là một kỳ tích khi đặt trong bối cảnh ngành phải đối mặt với “cơn bão” kép thiên tai khắc nghiệt và những rào cản thương mại ngày càng dày đặc. Trong khó khăn, thủy sản vẫn là trụ cột, là điểm sáng của ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, chúng ta không được phép tự mãn hay ngủ quên trên chiến thắng. Dư địa tăng trưởng dựa trên tài nguyên đã cạn, giờ là lúc phải tăng trưởng dựa trên hàm lượng chất xám. Các viện, trường và doanh nghiệp phải bắt tay nhau chặt chẽ hơn để đưa các công nghệ mới vào sản xuất giống, nuôi biển công nghiệp và chế biến sâu, gia tăng giá trị cho từng con tôm, con cá.
Hướng tới ngành thủy sản xanh là yêu cầu bắt buộc và không thể đảo ngược lại với xu thế của thế giới. Ít nhất chúng ta phải có khái niệm trong đầu ngay từ bây giờ, nếu chậm sẽ khó hội nhập sâu rộng. Tuyệt đối không được làm theo phong trào.
Năm 2026 sẽ là năm bản lề quan trọng. Vì vậy, với đà tăng trưởng và tâm thế mới, ngành thủy sản sẽ tiếp tục bứt phá, hoàn thành xuất sắc mục tiêu 11,5 tỷ USD, khẳng định vị thế của thủy sản Việt Nam trên trường quốc tế.
Năm nay chúng ta đạt mốc xuất khẩu rất cao. Có lẽ đó là kết quả từ những chiến lược, đề án mà chúng ta đã tổ chức triển khai theo đúng hướng, chiến lược phát triển thủy sản bền vững đã bắt đầu phát huy hiệu quả rõ rệt. Khai thác chững lại và có dấu hiệu giảm, trong khi nuôi trồng thủy sản phát triển bứt phá. Các đối tượng chủ lực như tôm, cá tra giá trị xuất khẩu đều tăng và đạt đỉnh mới. Bên cạnh đó, các sản phẩm từ nuôi biển, rong tảo đã bắt đầu có thị trường ổn định. Mưa lũ, bão năm nay rất cực đoan, cùng với đó là dấu hiệu môi trường ô nhiễm tại nhiều vùng. Đây là những thách thức đòi hỏi công tác chỉ đạo điều hành phải cực kỳ linh hoạt.
Trong thời gian tới, các thị trường nhập khẩu sẽ áp dụng hệ thống đánh nhãn xanh, vàng, đỏ, đồng thời bổ sung thêm yêu cầu về phúc lợi động vật thủy sản. Như vậy, bên cạnh vấn đề an toàn thực phẩm, đây sẽ là những thách thức lớn mà thủy sản Việt Nam phải đối mặt. Nói cách khác, thị trường không còn chỉ mua sản phẩm, mà còn mua cả “câu chuyện xanh” đằng sau những sản phẩm ấy.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, tài nguyên thiên nhiên chịu áp lực lớn và thị trường thế giới liên tục nâng cao các tiêu chuẩn môi trường – xã hội – quản trị (ESG), nông nghiệp xanh không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành con đường phát triển tất yếu của ngành thủy sản Việt Nam nói chung, ngành tôm nói riêng. Đối với lĩnh vực nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu, nông nghiệp xanh chính là chìa khóa để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh, giữ vững thị phần và khẳng định uy tín bền vững trên thị trường toàn cầu.
Nông nghiệp xanh trong nuôi tôm là mô hình sản xuất hài hòa với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát rủi ro dịch bệnh và giảm thiểu phát thải. Thay cho cách làm chạy theo sản lượng, ngành tôm đang dịch chuyển sang tối ưu chất lượng – hiệu quả – bền vững lâu dài. Mô hình nuôi tôm xanh không chỉ giúp giảm rủi ro dịch bệnh và chi phí dài hạn, mà còn nâng cao tính ổn định của vùng nguyên liệu, yếu tố sống còn đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Các giải pháp then chốt bao gồm: Giảm sử dụng kháng sinh, hóa chất, ưu tiên chế phẩm sinh học và quản lý dịch bệnh chủ động; ứng dụng công nghệ nuôi tiên tiến như nuôi nhiều giai đoạn, nuôi tuần hoàn (RAS), ao nổi, ao lót bạt, kiểm soát môi trường nước bằng cảm biến và dữ liệu số; tiết kiệm tài nguyên nước, năng lượng, tái sử dụng nước và giảm xả thải ra môi trường tự nhiên; liên kết chuỗi nuôi – chế biến – xuất khẩu, giúp truy xuất nguồn gốc rõ ràng, minh bạch và ổn định chất lượng.
Nếu nuôi tôm là nền tảng, thì chế biến xanh chính là nơi gia tăng giá trị và thể hiện rõ cam kết phát triển bền vững của các doanh nghiệp tôm. Các nhà máy chế biến tôm xuất khẩu đang từng bước chuyển đổi theo hướng tiết kiệm, nâng cao giá trị, giảm dấu chân carbon, thông qua các hành động cụ thể, như: Tiết kiệm năng lượng, nước và nguyên liệu, áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn; xử lý nước thải đạt chuẩn cao, tái sử dụng phụ phẩm (vỏ tôm, đầu tôm) cho thức ăn chăn nuôi, phân bón, chitosan, collagen…; giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời áp mái; đảm bảo tiêu chuẩn lao động, an sinh xã hội, xây dựng môi trường làm việc nhân văn và bền vững.
Từ đây, ta có thể thấy, chế biến xanh không làm tăng chi phí một cách đơn thuần, mà ngược lại giúp doanh nghiệp tối ưu hiệu suất, nâng cao hình ảnh thương hiệu và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu từ thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản và nhất là các hệ thống bán lẻ lớn.
Trong khi nhiều quốc gia cạnh tranh bằng quy mô và giá thấp như Ecuador, Ấn Độ, thì tôm Việt Nam có cơ hội đi theo con đường khác; cạnh tranh bằng chất lượng, sự tử tế và tính bền vững. Bởi nếu Việt Nam theo đuổi nông nghiệp xanh sẽ giúp ngành tôm: Vượt qua các rào cản kỹ thuật và môi trường ngày càng khắt khe; nâng cao giá trị gia tăng, không bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh giá; xây dựng niềm tin lâu dài với người tiêu dùng và nhà nhập khẩu quốc tế; bảo vệ sinh kế của người nuôi, ổn định vùng nguyên liệu và gìn giữ hệ sinh thái ven biển. Hay nói một cách khác, trong dài hạn, nông nghiệp xanh chính là nền tảng để ngành tôm Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm rủi ro chuỗi cung ứng và phát triển bền vững qua nhiều thế hệ.
Tóm lại, nông nghiệp xanh trong nuôi tôm và chế biến tôm xuất khẩu không phải là khẩu hiệu, mà là một quá trình chuyển đổi tư duy và mô hình phát triển. Đó là hành trình từ “làm nhiều” sang “làm đúng”, từ “ngắn hạn” sang “bền vững”, từ “chi phí thấp” sang “giá trị cao”. Với kinh nghiệm, sự linh hoạt và tinh thần đổi mới, ngành tôm Việt Nam hoàn toàn có thể biến nông nghiệp xanh thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi, góp phần khẳng định vị thế của con tôm Việt Nam trên bản đồ thủy sản thế giới, không chỉ hôm nay, mà cho nhiều năm về sau.
Xuân Trường – Bảo Hân