(TSVN) – Sau những thiệt hại do cơn bão số 13 gây ra vào cuối năm 2025, hoạt động nuôi tôm nước lợ tại tỉnh Gia Lai đang bước vào giai đoạn khôi phục sản xuất. Người nuôi tại các vùng trọng điểm đang khẩn trương cải tạo ao đìa, xử lý môi trường và gia cố hạ tầng nhằm chuẩn bị cho vụ nuôi chính năm 2026.
Người nuôi tôm tỉnh Gia Lai chuẩn bị điều kiện ao, hồ cho vụ nuôi tôm. Ảnh: Thành Nguyên
Tại các xã Tuy Phước và Tuy Phước Đông – những địa phương có diện tích nuôi tôm nước lợ lớn của tỉnh – nhiều ao nuôi bị bồi lấp, sạt lở bờ bao và hư hỏng hệ thống cấp – thoát nước sau bão đang được người dân khẩn trương khắc phục. Việc cải tạo ao được triển khai đồng loạt nhằm sớm đưa các diện tích nuôi trở lại sản xuất.
Theo ghi nhận, các hộ nuôi đang tiến hành tháo cạn nước trong ao, nạo vét lớp bùn đáy, phơi đáy ao từ 7 – 10 ngày và rải vôi xử lý nền đáy để tiêu diệt mầm bệnh còn tồn lưu sau mùa mưa bão. Đồng thời, hệ thống cống, bọng được kiểm tra, sửa chữa; lưới lọc nước đầu vào cũng được thay mới để hạn chế mầm bệnh xâm nhập vào ao nuôi.
Ngoài ra, nhiều hộ nuôi còn đầu tư bổ sung ao lắng, ao xử lý nước nhằm nâng cao khả năng kiểm soát môi trường nuôi. Các bờ bao bị sạt lở cũng được gia cố, sửa chữa để bảo đảm an toàn cho hệ thống ao nuôi trong suốt vụ sản xuất.
Quá trình cải tạo ao được người nuôi thực hiện thận trọng, tập trung xử lý triệt để nền đáy và nguồn nước trước khi tiến hành thả giống. Đây được xem là bước quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh trong quá trình nuôi.
Bên cạnh việc cải tạo hạ tầng ao nuôi, việc tuân thủ lịch thời vụ và áp dụng các biện pháp nuôi an toàn sinh học cũng được ngành chuyên môn khuyến cáo thực hiện nghiêm.
Theo lịch thời vụ nuôi tôm nước lợ năm 2026, tổng diện tích thả nuôi toàn tỉnh dự kiến đạt khoảng 1.919,9 ha. Thời gian thả giống được quy định cụ thể theo từng vùng sinh thái và từng hình thức nuôi nhằm bảo đảm phù hợp với điều kiện thời tiết, nguồn nước và khả năng kiểm soát dịch bệnh.
Việc thả giống theo khung thời gian thống nhất giúp hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát môi trường nuôi.
Về kỹ thuật, trước khi thả nuôi, ao cần được nạo vét lớp bùn đáy, phơi khô và rải vôi khử trùng đúng liều lượng. Nguồn nước cấp vào ao phải qua ao lắng và được xử lý đạt các chỉ tiêu an toàn về pH, độ mặn, độ kiềm và các yếu tố môi trường khác theo quy định.
Con giống đưa vào thả nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch theo quy định nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Việc lựa chọn giống chất lượng và kiểm soát chặt chẽ nguồn nước được xem là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của vụ nuôi.
Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp khuyến khích người nuôi áp dụng các mô hình nuôi tôm theo hướng an toàn sinh học như Biofloc và semi-Biofloc nhằm ổn định môi trường nước, hạn chế mầm bệnh phát sinh và giảm thiểu tác động đến hệ sinh thái xung quanh./.
Thành Nguyên