(TSVN) – Ngày 22/3/2026, tại thành phố Cần Thơ, UBND thành phố phối hợp với Báo Tiền Phong cùng nhiều cơ quan và doanh nghiệp tổ chức hội thảo “An ninh nguồn nước ĐBSCL trước thách thức biến đổi khí hậu”. Đúng Ngày Nước Thế giới 22/3, như một lời nhắc nhở, giữ an ninh nguồn nước là trách nhiệm của hôm nay với tương lai, đặc biệt ở vùng nông nghiệp quốc gia. Hội thảo kết nối đa chiều để tìm lời giải cho các vấn đề đặt ra và sau đây xin giới thiệu tham luận “Đánh giá thực trạng nguồn nước và hạn mặn vùng ĐBSCL” của Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam.
Thực trạng xâm nhập mặn
Đặc điểm nguồn nước mặt ĐBSCL: Nội sinh chỉ 5% (22 tỷ m3, mùa mưa), ngoại sinh chiếm 95%. Có thể thấy, nước mặt ĐBSCL hoàn toàn từ thượng nguồn Mê Công cung cấp. Đặc điểm nguồn lưu vực Mê Công về dài hạn thì tổng lượng dòng chảy ít thay đổi nhưng biến động mạnh theo mùa khi lũ, kiệt do việc đắp đập thủy điện ở thượng nguồn và tăng diện tích sử dụng nước, thiên tai khó lường. Từ đó, vùng đất này đang định hình lại với nhiều khác biệt so với quá khứ bởi những yếu tố chính sau đây:
Thực trạng xâm nhập mặn do nước biển dâng những năm qua cho 2 kịch bản tương lai. Kịch bản thứ nhất đến năm 2030 tăng 12cm, năm 2050 tăng 23cm và năm 2100 tăng 53cm. Kịch bản thứ hai đến năm 2030 tăng 14cm, năm 2050 tăng 28cm và năm 2100 tăng 77cm. Như thế, nước biển có thể dâng cao gần 1 mét so với hiện nay.
Diễn biến xâm nhập mặn trong những năm gần đây
Đồng thời là thực trạng lún đất nền. Qua quan trắc cao độ các mốc ở TPHCM và vùng ĐBSCL: Tổng quan trắc 340 điểm, trong năm 2014 và 2015, cao độ nền so với năm 2008. Tỷ lệ lún ở vùng ĐBSCL là 0,5-3 cm/năm; vùng ven biển 1,5-3 cm/năm. Về lòng dẫn sông Tiền và sông Hậu cũng bị hạ thấp bình quân ở sông Tiền là 20 cm/năm, sông Hậu là 15 cm/năm.
Dự báo và khuyến nghị
Từ thực trạng trên đưa đến nhận xét chung: Vùng ĐBSCL đến năm 2030 có ranh mặn 4 g/l tăng bình quân 3,34 km; Đến năm 2050 ranh mặn 4g/l tăng bình quân 6,7 km.
Giả thiết với điều kiện công trình hiện trạng, đến năm 2030 diện tích có nguy cơ cao ngập mặn khoảng 64.000 ha tập trung ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long. Đến năm 2050 diện tích có nguy cơ cao ngập mặn khoảng 256.000 ha tập trung ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau.
Dự báo mặn xâm nhập theo kịch bản đến năm 2030, 2050 so với kịch bản nền năm 2020, ranh mặn 4g/lít năm 2030 tăng bình quân 3,34 km và năm 2050 tăng bình quân 6,7 km
Khuyến nghị: Đối với vùng nguy cơ cao cần điều chỉnh mô hình canh tác, dừng vụ, rải vụ. Đối với vùng nguy cơ trung bình cần điều chỉnh lịch thời vụ, tích trữ nước. Đối với vùng nguy cơ thấp có thể sản xuất bình thường với điều kiện tích trữ đủ nước. Việc nuôi trồng thủy sản mặn, lợ, ngọt phải điều chỉnh phù hợp để đạt hiệu quả.
Nhận xét chung
Vùng ĐBSCL đã, đang và vẫn là vùng trọng điểm nông nghiệp của cả nước, vùng thủy sản nuôi trồng của quốc gia, với nhiều lợi thế vượt trội về tài nguyên thiên nhiên đặc thù, có lợi thế cạnh tranh cao so với các vùng khác trên thế giới.
Nhưng vùng đất đang chịu các tác động ngoại biên nghiêm trọng, không thể đảo ngược được. Bao gồm: Phát triển thượng lưu Mê Công làm suy giảm phù sa và thay đổi quy luật dòng chảy. Biến đổi khí hậu – Nước biển dâng. Tác động do phát triển nội tại gây lún sụt đất, hạ thấp đồng bằng với mức độ rất nghiêm trọng.
Hướng đến một ĐBSCL thịnh vượng, bền vững và giàu bản sắc với nhiều lợi thế vượt trội về tài nguyên thiên nhiên đặc thù, có lợi thế cạnh tranh cao so với các vùng khác trên thế giới
Dưới các tác động lớn với mức độ ngày càng tăng, ĐBSCL đang dần được định hình lại so với lịch sử, với các đặc trưng cơ bản mới bất lợi hơn rất nhiều so với tự nhiên trước đây. Phát triển ĐBSCL cần theo hướng thích nghi có kiểm soát, chủ động tạo ra chế độ nước hợp lý trên nền chế độ tự nhiên, làm giảm mức độ rủi ro, bấp bênh trong các hoạt động kinh tế xã hội.
Với mục tiêu phát triển ĐBSCL theo hướng bền vững thì phải vận hành liên hệ thống thủy lợi vùng ĐBSCL hiệu quả, cần điều phối liên vùng – ứng dụng công nghệ – vận hành đa mục tiêu – tăng cường sự tham gia của cộng đồng.
Sáu Nghệ