Thành công từ nuôi lươn công nghệ cao

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Từng không có nền tảng về nông nghiệp, anh Phạm Ngọc Dung (phường Hà Huy Tập, tỉnh Hà Tĩnh) đã lựa chọn hướng đi khác biệt khi đầu tư nuôi lươn không bùn theo phương thức siêu thâm canh. Sau hơn 5 năm phát triển, mô hình này mang lại doanh thu trên 6,6 tỷ đồng mỗi năm, trở thành điểm nhấn trong chuyển dịch cơ cấu thủy sản tại Hà Tĩnh.

Tổ chức sản xuất theo chuỗi khép kín

Khác với cách nuôi truyền thống phụ thuộc nhiều vào ao bùn tự nhiên, toàn bộ lươn tại cơ sở của anh Dung được nuôi trong bể composite. Giá thể nhân tạo bằng dây nilon thay thế bùn đáy, vừa tạo nơi trú ẩn cho lươn, vừa giúp môi trường nuôi thông thoáng, hạn chế tích tụ chất thải. Nhờ đó, mật độ nuôi được nâng cao nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát dịch bệnh.

Hệ thống cấp – thoát nước được thiết kế đồng bộ, thực hiện thay nước hằng ngày sau khi cho ăn. Các chỉ số môi trường như nhiệt độ, pH được theo dõi thường xuyên. Thức ăn sử dụng kết hợp giữa cám công nghiệp và nguồn tươi sống như giun quế, cá xay, trứng gà, đảm bảo cân đối dinh dưỡng theo từng giai đoạn phát triển.

Phương pháp nuôi này giúp đàn lươn sinh trưởng đồng đều, rút ngắn thời gian nuôi và giảm tỷ lệ hao hụt. Hiện mỗi năm trang trại cung ứng ra thị trường khoảng 60 – 70 tấn lươn thương phẩm, giá bán bình quân 100.000 đồng/kg. Tổng doanh thu từ nuôi thương phẩm, sản xuất giống và dịch vụ đi kèm đạt xấp xỉ 6,6 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 40%.

Mỗi năm trang trại cung ứng ra thị trường khoảng 60 – 70 tấn lươn thương phẩm. Ảnh: ST

Gian nan không hề nản

Ít ai biết, trước khi gắn bó với con lươn, anh Dung từng kinh doanh xe máy, buôn bán hàng hóa và làm nhân viên kinh doanh bia. Năm 2019, khi mô hình nuôi lươn không bùn còn khá mới tại địa phương, anh quyết định đầu tư thử nghiệm.

Giai đoạn đầu không ít lần thất bại. Do thiếu kinh nghiệm và quy trình kỹ thuật chưa hoàn thiện, lươn thường mắc bệnh đường ruột, hô hấp; môi trường nước biến động khiến tỷ lệ hao hụt cao. Thay vì bỏ cuộc, anh dành thời gian nghiên cứu tài liệu, tham quan học hỏi và từng bước điều chỉnh quy trình nuôi theo hướng kiểm soát chặt chẽ từ đầu vào đến khâu chăm sóc.

Việc chuẩn hóa kỹ thuật – từ xử lý nước, lựa chọn mật độ thả nuôi đến chế độ dinh dưỡng và phòng bệnh – đã tạo nền tảng để mô hình vận hành ổn định. Khi quy trình được tối ưu, hiệu quả kinh tế dần rõ nét.

Chủ động con giống, mở rộng liên kết

Không dừng lại ở nuôi thương phẩm, anh Dung đầu tư sản xuất giống nhằm chủ động nguồn cung và kiểm soát chất lượng. Mỗi năm, cơ sở xuất bán khoảng 3 triệu con giống với giá 3.000 – 4.000 đồng/con. Việc chủ động giống không chỉ giảm chi phí đầu vào mà còn tạo thêm nguồn thu đáng kể.

Song song đó, anh phát triển mạng lưới liên kết với các hộ nuôi tại địa phương và các tỉnh lân cận. Hình thức hợp tác bao gồm cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật và cam kết thu mua sản phẩm. Nhờ vậy, nhiều hộ dân yên tâm mở rộng sản xuất, hạn chế rủi ro về thị trường.

Hiện, mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 15 lao động địa phương, thu nhập bình quân 5 – 7 triệu đồng/tháng. Sự tham gia của lực lượng thanh niên góp phần hình thành đội ngũ lao động có tay nghề, từng bước chuyên nghiệp hóa nghề nuôi lươn.

Thực tế sản xuất cho thấy, nuôi lươn không bùn trong bể composite phù hợp với quy mô hộ và trang trại vừa, đặc biệt ở những nơi quỹ đất hạn chế. So với phương thức truyền thống, mô hình này có nhiều ưu điểm như tiết kiệm nước, giảm ô nhiễm môi trường, thuận lợi trong kiểm soát dịch bệnh và từng bước có thể áp dụng cơ giới hóa.

Với cách tổ chức sản xuất theo hướng khép kín và liên kết chuỗi, mô hình nuôi lươn không bùn của anh Phạm Ngọc Dung đang chứng minh tính khả thi cả về kinh tế lẫn kỹ thuật. Đây được xem là gợi ý đáng tham khảo cho các địa phương đang tìm kiếm giải pháp phát triển thủy sản thâm canh theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài
error: Content is protected !!