(TSVN) – Với đường bờ biển dài hơn 495 km cùng hệ thống hàng trăm đảo lớn nhỏ, Khánh Hòa từ lâu được xác định là một trong những địa phương có tiềm năng lớn để phát triển nuôi biển. Trong chiến lược đưa kinh tế biển trở thành trụ cột tăng trưởng, tỉnh đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm nuôi biển công nghệ cao của cả nước.
Theo đánh giá của ngành nông nghiệp địa phương, rào cản lớn nhất trong phát triển nuôi biển không nằm ở điều kiện tự nhiên mà ở tập quán sản xuất lâu đời. Trong nhiều năm, người dân ven biển Khánh Hòa chủ yếu nuôi trồng bằng lồng bè gỗ tại các đầm, vịnh kín. Phương thức này tuy phù hợp với điều kiện yên tĩnh, nhưng lại bộc lộ nhiều hạn chế khi đối mặt với biến đổi khí hậu, sóng lớn, gió mạnh.
Những lồng bè thô sơ khó có khả năng chống chịu thiên tai, dẫn đến rủi ro cao, thiệt hại lớn cho người nuôi. Điều này khiến nhiều ngư dân e ngại khi nghĩ đến việc vươn ra vùng biển xa hơn, nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng lại giàu tiềm năng phát triển.
Bước ngoặt xuất hiện khi Quyết định số 231/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm phát triển nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa được triển khai. Trung tâm Khuyến nông tỉnh làm đầu mối kết nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân để đưa các mô hình nuôi mới vào thực tế.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Khánh Hòa cho biết, cách thuyết phục hiệu quả nhất đối với người dân chính là kết quả cụ thể từ các mô hình thí điểm. Khi tận mắt chứng kiến hiệu quả kinh tế và mức độ an toàn của công nghệ mới, ngư dân sẽ dần thay đổi tư duy.
Thực tế tại các vùng nuôi cho thấy, việc ứng dụng lồng tròn vật liệu HDPE kích thước lớn đã tạo ra bước tiến rõ rệt. Không chỉ có khả năng chịu sóng gió tốt, loại lồng này còn phù hợp để phát triển nuôi biển xa bờ, đặc biệt với các đối tượng như cá chim vây vàng.
Một trong những mô hình tiêu biểu được triển khai tại khu vực Đầm Bấy (phường Nha Trang) với sự tham gia của 5 hộ dân. Tại đây, 10 lồng nuôi cá chim vây vàng có thể tích 800 m³/lồng đã được đưa vào vận hành theo quy trình kỹ thuật mới.
Nuôi biển công nghệ cao tại Khánh Hòa. Ảnh: Cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Kết quả thu hoạch đợt đầu cho thấy tổng sản lượng đạt 36,5 tấn cá thương phẩm. Đáng chú ý, tỷ lệ sống của cá đạt trên 85%, cao hơn đáng kể so với phương thức nuôi truyền thống. Thời gian sinh trưởng được rút ngắn, trong khi hệ số tiêu tốn thức ăn giảm, góp phần tối ưu chi phí sản xuất.
Sau khi trừ các khoản chi phí như con giống, thức ăn và khấu hao thiết bị, lợi nhuận ròng của các hộ tham gia mô hình đạt khoảng 1,7 tỷ đồng. Bình quân mỗi lồng mang lại hơn 485 triệu đồng chỉ sau một chu kỳ nuôi.
Những con số này cho thấy hiệu quả vượt trội của việc ứng dụng công nghệ trong nuôi biển. Không chỉ giảm thiểu rủi ro do thiên tai, mô hình còn giúp nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm trên cùng một đơn vị diện tích mặt nước.
Không dừng lại ở vùng nuôi ven bờ, các mô hình còn được triển khai tại khu vực biển hở như Hòn Nội – nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với sóng lớn, gió mạnh và khoảng cách xa bờ.
Dù gặp nhiều khó khăn về đi lại và điều kiện sản xuất, các nhóm hộ dân đến từ Cam Lâm, Cam Ranh vẫn bước đầu nuôi thành công, khẳng định khả năng thích ứng của mô hình nuôi công nghệ cao trong điều kiện biển mở.
Tuy nhiên, từ thực tế triển khai, Trung tâm Khuyến nông tỉnh cũng chỉ ra những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ, đặc biệt là vấn đề dịch vụ hậu cần. Khoảng cách xa bờ khiến chi phí vận chuyển con giống, thức ăn và nhân công tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chung.
Hiện nay, các mô hình tại Bãi Giông và Mũi Cổ Cò tiếp tục duy trì kết quả khả quan với các đối tượng nuôi như cá chim vây vàng và cá mú cỡ lớn, đạt trọng lượng từ 0,8 – 1,2 kg/con. Dự kiến trong quý II/2026, các vùng nuôi này sẽ cung ứng ra thị trường hàng chục tấn cá thương phẩm chất lượng cao.
Từ thành công của các mô hình thí điểm, Khánh Hòa đang triển khai bước đi chiến lược là khảo sát, quy hoạch mở rộng vùng nuôi biển trên phạm vi toàn tỉnh. Hoạt động này không chỉ đơn thuần là tìm kiếm mặt nước mà còn là quá trình đánh giá tổng thể tài nguyên biển dựa trên nền tảng khoa học, kết hợp công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS).
Phạm vi khảo sát trải dài từ vùng ven bờ dưới 3 hải lý đến khu vực biển hở từ 3 – 6 hải lý. Qua đó, nhiều khu vực tiềm năng đã được xác định rõ, bao gồm vùng biển từ Hòn Thị (nam Ninh Hòa) đến đảo Cùm Meo (Vạn Ninh), đặc biệt là khu vực xã Vĩnh Hải và vịnh Phan Rang. Đây là những khu vực có độ sâu và điều kiện thủy động lực học phù hợp để phát triển nuôi biển quy mô công nghiệp bằng lồng HDPE, mở ra không gian phát triển rộng lớn cho ngành thủy sản địa phương.
Trong thời gian tới, Trung tâm Khuyến nông tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan để xác định cụ thể vùng nuôi, đối tượng nuôi và quy trình công nghệ phù hợp, đảm bảo phát triển bền vững và hạn chế xung đột với các ngành kinh tế biển khác.
Song song với việc mở rộng vùng nuôi, công tác khuyến nông tiếp tục đóng vai trò kết nối doanh nghiệp cung cấp công nghệ với các tổ hợp tác, hộ nuôi. Thông qua đó, người dân được tiếp cận với các giải pháp thiết bị hiện đại, từng bước xóa bỏ tâm lý e ngại công nghệ mới.
Nhiều kỹ thuật tiên tiến được khuyến khích áp dụng như tiêm vaccine phòng bệnh cho cá nhằm hạn chế sử dụng kháng sinh, lựa chọn con giống kích cỡ lớn, cải tiến kỹ thuật vận chuyển, che mát lồng nuôi hay sử dụng chất gây mê đạt chuẩn khi thu hoạch.
Đồng thời, Trung tâm cũng hỗ trợ người dân làm quen với việc ghi chép nhật ký sản xuất, lưu giữ chứng từ đầu vào và từng bước số hóa dữ liệu. Đây là nền tảng quan trọng để thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử – yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.
Cùng với đó, công tác quy hoạch dựa trên nền tảng khoa học và dữ liệu không gian đang giúp địa phương chủ động hơn trong quản lý, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nuôi trồng thủy sản với các ngành kinh tế biển khác như du lịch, giao thông hàng hải.
Vũ Hải