(TSVN) – Như thông tin Tạp chí Thủy sản Việt Nam đã đưa, hôm 6/5/2026, Trường Thủy sản của Đại học Cần Thơ tổ chức hội nghị khoa học “Quản lý sức khỏe & kiểm soát dịch bệnh trên tôm trong điều kiện hiện nay”. Tại đây, chuyên gia Trương Quốc Phú ở Trường Thủy sản trình bày nghiên cứu “Quản lý môi trường và dịch bệnh ao nuôi tôm thâm canh”, đi sâu phân tích hoạt động phòng bệnh tổng hợp qua xử lý nguồn nước cấp và quản lý chất lượng nước trong vụ nuôi
Thành tựu và thách thức trong nuôi tôm
Chuyên gia Trương Quốc Phú cho rằng, nước ta đã đứng vào hàng đầu thế giới về nuôi tôm nước lợ. Giá trị xuất khẩu tôm một năm đã đạt 4,6 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu tôm thẻ đạt 2,98 tỷ USD.
Nguyên lý của công nghệ bioflocs trong quản lý chất lượng nước vụ nuôi
Tuy nhiên, môi trường cũng bị ô nhiễm, chất lượng nước kém làm phát sinh nhiều dịch bệnh: WSSV, AHPND, TPD, EHP, WFS. Khi chất lượng nước kém, mầm bệnh phát triển khiến tôm bị stress. Mầm bệnh dễ lan truyền trong môi trường nước nên khó phát hiện bệnh sớm, khó sử dụng thuốc và đặc biệt, những bệnh nguy hiểm rất khó trị
Nên quản lý chất lượng nước tốt là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất, gồm nguồn nước cấp và chất lượng nước trong vụ nuôi
Xử lý nguồn nước cấp
Trước tiên cần lắng nước để làm giảm chất lơ lửng, phù sa; giảm mật độ vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là virus. Đồng thời, tăng hiệu quả khử trùng nước; Loại bỏ khí độc, tăng oxy hòa tan; Loại bỏ kim loại nặng
Tiếp theo, khử trùng nước đầu vụ với Chlorine (Ca(OCl)2); TCCA (C3Cl3N3O3); Chloramine B,T; Oxy già (H2O2); PMS (KHSO5.KHSO.K2SO4); Thuốc tím (KMnO4). Trong môi trường pH thấp, các chất khử trùng hiệu quả là Chlorine (Ca(OCl)2); Thuốc tím (KMnO4); PVP-Iodine. Còn trong môi trường pH cao, các chất khử trùng hiệu quả là PMS (KHSO5.KHSO.K2SO4); Oxy già (H2O2); Glutaraldehyde (C5H8O2); BKC.
Sơ đồ giới thiệu hoạt động của vi khuẩn và tảo vào ban đêm
Chú ý diệt bào tử EHP (Công bố) bằng Chlorine 40 mg/L trong 15 phút, 10 mg/L trong 24 giờ; Thuốc tím 15 mg/L trong 15 phút, 5 mg/L trong 24 giờ; Cồn >20o trong 15 phút. Diệt bào tử EHP (Thử nghiệm) bằng Chlorine 20 mg/L trong 24 giờ, 10 mg/L trong 72 giờ; Oxy già 20 mg/L trong 24 giờ, 10 mg/L trong 72 giờ; PMS 20 mg/L trong 24 giờ, 10 mg/L trong 72 giờ.
Bón phân gây màu để ngăn tảo đáy phát triển, hạn chế tảo độc, tạo thức ăn tự nhiên, hấp thụ chất độc. Trong đó, gây màu trà (độ mặn cao) với tỉ lệ N:Si:P khoảng 15-30:4:1; Gây màu xanh nhạt (độ mặn thấp) với tỉ lệ N:P khoảng 7-14:1. Một số sản phẩm gây màu có thể khống chế tảo nở hoa.
Quan tâm bón chế phẩm vi sinh để giúp ổn định màu nước, gia tăng mật độ lợi khuẩn, ngăn ngừa vi khuẩn có hại.
Hiệu quả diệt Vibrio spp. trong quản lý chất lượng nước ao nuôi
Quản lý chất lượng nước ao nuôi
Chuyên gia Trương Quốc Phú nhấn mạnh, khi pH và độ kiềm thấp làm tôm mềm vỏ, tăng khí độc H2S; Còn pH và độ kiềm cao khiến tôm chậm lớn, dễ nhiễm bệnh do vi khuẩn và tăng khí độc NH3. Nếu pH biến động (độ kiềm thấp) thì tôm dễ mắc bệnh virus đốm trắng.
Xử lý pH thấp: Bón vôi, NaHCO 3, Na2CO3. Xử lý pH cao: Bón acid hữu cơ, mật đường – CPVS.
Kiểm soát độc tố NH3 bằng duy trì pH<8,5; Hút bùn đáy; Bón Zeolite, Yucca, CPVS.
Kiểm soát NO2- bằng hút bùn đáy, dùng mật rỉ đường, CPVS
Kiểm soát H2S bằng duy trì pH>7,5; Hút bùn đáy; Bón CPVS; Cho tôm ăn Vit. B12.
Thường xuyên khử trùng định kỳ để giảm mật độ vi khuẩn Vibrio, diệt mầm virus tự do. Bổ sung vi sinh đối kháng để giảm mật độ vi khuẩn Vibrio, hỗ trợ tiêu hóa.
“Xử lý nguồn nước cấp và quản lý chất lượng nước trong vụ nuôi là 2 trong 4 khâu Phòng bệnh tổng hợp”, chuyên gia Trương Quốc Phú kết luận.
Sáu Nghệ
Ảnh: Theo chuyên gia Trương Quốc Phú