(TSVN) – Với 77 vụ việc, Mỹ hiện dẫn đầu về số cuộc điều tra phòng vệ thương mại với hàng hóa Việt Nam, trong đó có mặt hàng tôm. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp xuất khẩu tôm Việt Nam phải bình tĩnh, chủ động ứng phó trước các quy trình pháp lý ngày càng khắt khe.
Theo Báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó với các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp tại thị trường Mỹ” của Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công Thương), với vị thế là đối tác có thặng dư thương mại lớn thứ ba với Mỹ, Việt Nam đang trở thành tâm điểm của các vụ điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp.
Mỹ là nước nhập khẩu nhiều nhất trên thế giới. Sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu cũng gây áp lực cho các ngành sản xuất nội địa của Mỹ, buộc chính quyền Tổng thống Donald Trump phải tìm kiếm các giải pháp để hạn chế nhập khẩu. Ví dụ như điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (chống bán phá giá; chống trợ cấp; chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp; tự vệ), Mục 301 và Mục 232 của Đạo luật thương mại, Đạo luật chống lao động cưỡng bức và gần đây nhất là thuế đối ứng.
132 doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang Mỹ tiếp tục nhận mức thuế suất toàn quốc là 25,76%. Ảnh: CTV
Một trong các công cụ được chính quyền Mỹ thường xuyên sử dụng thời gian qua là các biện pháp phòng vệ thương mại. Theo thống kê của WTO, Mỹ hiện là nước đứng đầu trên thế giới về việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo hộ ngành sản xuất nội địa. Đến nay, Mỹ đã tiến hành điều tra 77 vụ trên tổng số 297 vụ việc nước ngoài điều tra với Việt Nam (chiếm gần 26%), gồm: 35 vụ việc chống bán phá giá, 16 vụ việc chống trợ cấp, 23 vụ việc chống lẩn tránh thuế phòng vệ thương mại và 3 vụ việc tự vệ.
Mới đây, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ban hành kết luận sơ bộ trong đợt rà soát hành chính lần thứ 20 (POR20) lệnh áp thuế chống bán phá giá đối với tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ trong giai đoạn từ 1/2/2024 đến 31/1/2025. Trong đợt rà soát này, có 29 công ty Việt Nam đã kịp thời nộp Hồ sơ đề nghị nhận mức thuế suất riêng rẽ và đã được DOC chấp thuận. Hai công ty trong số 29 công ty trên đã được DOC lựa chọn làm bị đơn bắt buộc.
Theo Kết luận sơ bộ, 2 doanh nghiệp bị đơn bắt buộc được DOC xác định mức thuế chống bán phá giá (CBPG) là 6,76% và 10,76%. Một trong 2 doanh nghiệp bị kết luận không cung cấp đầy đủ mô tả đối với một số hóa chất đầu vào để DOC có thể đối chiếu các hóa chất này với giá trị thay thế tương ứng, dẫn tới việc bị áp dụng dữ liệu sẵn có bất lợi đối với một phần chi phí đầu vào. 27 doanh nghiệp còn lại nhận mức thuế suất riêng rẽ là 7,56% – mức thuế bình quân gia quyền của 2 doanh nghiệp bị đơn bắt buộc.
Ngoài ra, DOC dự kiến hủy rà soát đối với 8 doanh nghiệp do không có lô hàng thuộc diện xem xét trong kỳ rà soát. Đồng thời, 132 doanh nghiệp không chứng minh được điều kiện hưởng thuế suất riêng rẽ tiếp tục nhận mức thuế suất toàn quốc 25,76%.
Các bên liên quan có thể nộp bình luận cho DOC trong vòng 21 ngày kể từ ngày đăng Công báo Liên bang Mỹ và ý kiến phản biện trong vòng 5 ngày sau đó. Các bên cũng có thể nộp yêu cầu tổ chức phiên điều trần trong vòng 30 ngày kể từ ngày ban hành Thông báo này trên Công báo Liên bang Mỹ. Dự kiến, DOC sẽ ban hành Kết luận cuối cùng của đợt rà soát này trong vòng 120 ngày kể từ ngày ban hành Kết luận sơ bộ, khoảng tháng 11/2026.
Nhìn nhận về động thái trên của DOC, ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Sao Ta cho rằng, con tôm Việt Nam đã có 20 năm bị áp thuế chống bán phá giá và chúng ta có kinh nghiệm ứng phó, nên việc quan trọng là hết sức bình tĩnh. Đây chỉ là cách tính sơ bộ – tạm tính, các doanh nghiệp bị đơn có chuẩn bị bổ sung các số liệu chứng minh không bán phá giá.
Ông Lực tin rằng, khi phát hiện được sai sót và chứng minh được thì với phán quyết thuế cuối cùng của DOC, các doanh nghiệp bị đơn sẽ nhận được mức thuế thỏa đáng.
Đồng quan điểm, Bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nhận định, đây là mức thuế sơ bộ, chưa phải kết luận cuối cùng nên chúng ta có quyền và thời gian khiếu nại để nhận được kết quả hợp lý theo hướng tốt hơn.
Trước xu hướng điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp của Mỹ ngày càng siết chặt, Việt Nam đã xây dựng được khung pháp lý tương đối đầy đủ với Luật Quản lý ngoại thương và các thông tư hướng dẫn về phòng vệ thương mại để ứng phó với các vụ việc. Bộ Công Thương đã thiết lập hệ thống cảnh báo sớm giúp doanh nghiệp nhận diện nguy cơ bị kiện dựa trên biến động của các chỉ số xuất khẩu.
Năng lực ứng phó của doanh nghiệp đã được nâng cao, nhiều ngành hàng lớn (tôm, cá tra) đã quen thuộc với các kỳ rà soát của Mỹ và đạt được mức thuế 0% nhờ hệ thống kế toán minh bạch.
Theo Báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp ứng phó với các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp tại thị trường Mỹ”, Việt Nam vẫn gặp phải một số khó khăn trong công tác ứng phó. Việc chưa được Mỹ công nhận quy chế kinh tế thị trường khiến doanh nghiệp Việt luôn ở thế yếu khi bị tính toán mức thuế dựa trên nước thay thế.
Mặt khác, chi phí theo đuổi các vụ kiện tại Mỹ cực kỳ đắt đỏ, là gánh nặng lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việt Nam vẫn đang thiếu hụt đội ngũ luật sư và chuyên gia có khả năng tranh tụng trực tiếp bằng tiếng Anh và hiểu sâu sắc các kỹ thuật tính toán phức tạp của DOC.
Nhằm nâng cao hiệu quả ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại của Mỹ trong thời gian tới, báo cáo của Cục Phòng vệ Thương mại cho rằng, cơ quan quản lý cần tiếp tục ưu tiên đàm phán cấp cao để Mỹ sớm công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, giúp xóa bỏ các phương pháp tính thuế bất công.
Minh bạch hóa các chương trình hỗ trợ thông qua rà soát và điều chỉnh các chương trình ưu đãi thuế, tín dụng ở cả cấp trung ương và địa phương để đảm bảo không vi phạm các quy định về trợ cấp có thể đối kháng của WTO và Mỹ. Nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm bằng việc tích hợp dữ liệu từ các hãng tin kinh tế lớn và dữ liệu hải quan quốc tế để dự báo chính xác hơn các xu hướng điều tra.
Nghiên cứu cơ chế hình thành quỹ hỗ trợ (có sự đóng góp của doanh nghiệp và ngân sách) để giúp các ngành hàng thuê tư vấn quốc tế trong các vụ việc trọng điểm. Cùng với đó, phát triển đội ngũ chuyên gia nội địa bằng việc tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về luật thương mại quốc tế và kỹ năng bóc tách chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn của Mỹ. Tăng cường kiểm tra, hậu kiểm đối với các mặt hàng có nguyên liệu nhập khẩu từ các nước đang bị Mỹ áp thuế cao nhằm ngăn chặn rủi ro điều tra chống lẩn tránh thuế trên diện rộng.
Đông Phong