(TSVN) – Kết quả nuôi thành thục cá bông lau bố mẹ và sinh sản nhân tạo thành công tại Đại học Cần Thơ mở thêm hướng chủ động nguồn giống, phục vụ nghiên cứu và đánh giá khả năng phát triển nuôi thương phẩm loài cá này.
Cá bông lau (Pangasius krempfi) là loài cá da trơn phân bố ở vùng nước lợ, có kích thước lớn và chất lượng thịt được đánh giá cao. Cá thương phẩm có trọng lượng trung bình khoảng 2 kg. Việc phát triển thêm đối tượng nuôi này có thể góp phần đa dạng hóa các loài thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tạo thêm sản phẩm phục vụ xuất khẩu bên cạnh các đối tượng truyền thống như cá tra.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, một số hộ dân vùng ven biển đã nuôi cá bông lau trong ao nước lợ, nhưng nguồn giống hiện vẫn chủ yếu lấy từ tự nhiên.
Xuất phát từ thực tế này, Đại học Cần Thơ đã hợp tác cùng Đại học Namur và Đại học Liège (Vương quốc Bỉ) triển khai dự án Diversaqua (Đa dạng hóa loài thủy sản nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long qua chọn lọc loài cá da trơn nước lợ: Cách tiếp cận đa chiều trong phát triển bền vững). Dự án do Viện Hàn lâm về Nghiên cứu và Giáo dục sau đại học và Ủy ban Hợp tác Quốc tế (ARES-CCI, Bỉ) tài trợ.
Việc tạo được cá giống trong điều kiện nhân tạo giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn cá khai thác ngoài tự nhiên. Ảnh: Đại học Cần Thơ
Sau hơn 2 năm nghiên cứu, nhóm thực hiện dự án do GS.TS. Nguyễn Thanh Phương (Đại học Cần Thơ) và GS.TS. Patrick Kestemont (phía Bỉ) chủ trì đã gặt hái được thành quả vượt mong đợi. Nhóm đã nuôi cá bông lau bố mẹ thành thục từ cá giống trong hệ thống bể tuần hoàn. Cá bố mẹ sau đó được kích thích sinh sản nhân tạo bằng các loại kích dục tố thường dùng trong nuôi trồng thủy sản.
Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng bởi cá bông lau trong tự nhiên có tập tính di cư sinh sản. Cá trưởng thành từ vùng nước lợ ven biển di chuyển ngược dòng Mekong đến khu vực thượng nguồn để sinh sản, khiến việc tái tạo đầy đủ điều kiện sinh sản trong môi trường nuôi trở thành một trong những thách thức khi phát triển nguồn giống nhân tạo.
Khi cá bố mẹ đạt trạng thái thành thục, nhóm nghiên cứu sử dụng các loại kích dục tố thường được áp dụng trong sản xuất giống thủy sản để kích thích sinh sản. Trứng được thu từ cá mẹ, thực hiện các bước cần thiết cho quá trình thụ tinh và ấp nở. Cá bột sau khi nở tiếp tục được chăm sóc trong bể, phát triển qua giai đoạn cá hương và đạt đến cá giống.
Việc tạo được cá giống trong điều kiện nhân tạo vì vậy có thể giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn cá khai thác ngoài tự nhiên, đồng thời tạo nguồn vật liệu ổn định cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tuy nhiên, sinh sản nhân tạo thành công mới là bước khởi đầu. Đại học Cần Thơ sẽ tiếp tục hoàn thiện các nghiên cứu về cá giống và nuôi thương phẩm, đánh giá khả năng phát triển loài cá này trước khi đưa kết quả vào thực tiễn sản xuất.
Nguyễn Hằng