(TSVN) – Hệ sinh thái quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành thủy sản. Không chỉ cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ, nơi ươm dưỡng và nguồn thức ăn cho các loài thủy sinh, hệ sinh thái còn điều hòa môi trường nước, duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ vùng ven biển. Vì vậy, phát triển thủy sản bền vững phải gắn với bảo vệ, phục hồi và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tự nhiên.
Hệ sinh thái là một thể thống nhất gồm quần xã sinh vật và môi trường vô sinh, liên kết với nhau thông qua dòng năng lượng, vòng tuần hoàn vật chất và các quan hệ sinh thái. Xét theo chức năng, hệ sinh thái gồm sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân giải và môi trường vô sinh.
Sinh vật sản xuất: Sinh vật sản xuất là các sinh vật tự dưỡng, có khả năng tạo chất hữu cơ từ chất vô cơ nhờ năng lượng ánh sáng hoặc năng lượng hóa học. Trong hệ sinh thái thủy sinh, nhóm này gồm thực vật phù du, tảo bám, rong biển, cỏ biển, thực vật thủy sinh bậc cao và một số vi sinh vật hóa tự dưỡng.
Sinh vật tiêu thụ: Sinh vật tiêu thụ là các sinh vật dị dưỡng, sử dụng sinh vật khác hoặc chất hữu cơ có sẵn làm thức ăn. Nhóm này gồm sinh vật tiêu thụ bậc 1 như động vật phù du và cá ăn thực vật; bậc 2 như cá nhỏ, tôm và một số động vật không xương sống; bậc cao như cá lớn, chim ăn cá và các loài săn mồi khác.
Sinh vật phân giải: Sinh vật phân giải, chủ yếu là vi khuẩn và nấm, phân hủy xác sinh vật, chất thải và vật chất hữu cơ, giải phóng chất dinh dưỡng vô cơ để sinh vật sản xuất tiếp tục sử dụng. Chúng hoạt động trong nước, bùn đáy, lá mục và xác sinh vật, trong cả điều kiện có ôxy và thiếu ôxy. Cần phân biệt sinh vật phân giải với động vật ăn mùn bã. Giun, một số loài cua, tôm và hải sâm chỉ ăn, nghiền nhỏ vật chất hữu cơ để hỗ trợ quá trình phân hủy nên vẫn thuộc nhóm sinh vật tiêu thụ. Sinh vật phân giải tác động lên vật chất từ mọi bậc dinh dưỡng, góp phần khép kín vòng tuần hoàn vật chất.
Môi trường vô sinh: Môi trường vô sinh gồm nước, đất và trầm tích đáy, không khí, ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, sóng, dòng chảy và thủy triều. Nhiệt độ, độ pH, độ trong, ôxy hòa tan và chất dinh dưỡng quyết định sự sinh trưởng, phân bố của sinh vật. Đất và trầm tích đáy là nơi cây bám rễ, sinh vật đáy cư trú, chất dinh dưỡng tích tụ và quá trình phân giải diễn ra. Sóng, dòng chảy và thủy triều vận chuyển vật chất, điều hòa nhiệt độ và kết nối các khu vực sinh thái.
Các thành phần của hệ sinh thái thủy sinh liên kết chặt chẽ và tác động qua lại. Sinh vật sản xuất quang hợp, tạo chất hữu cơ và ôxy, đồng thời cung cấp thức ăn, giữ bùn, hạn chế xói lở và ổn định nền đáy. Sinh vật tiêu thụ truyền năng lượng qua các bậc dinh dưỡng, kiểm soát quần thể và có thể cạnh tranh hoặc hỗ trợ lẫn nhau. Rừng ngập mặn và thảm cỏ biển còn là nơi trú ẩn, kiếm ăn và sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Vi khuẩn và nấm phân giải xác sinh vật, lá rụng và chất thải, trả lại chất dinh dưỡng cho môi trường. Nhờ đó, vật chất được tuần hoàn, còn năng lượng truyền một chiều qua chuỗi thức ăn và dần tiêu tán dưới dạng nhiệt.
Môi trường và sinh vật tác động lẫn nhau: ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn, ôxy hòa tan và dòng chảy chi phối đời sống sinh vật; ngược lại, sinh vật làm thay đổi lượng ôxy, phù sa và trầm tích. Khi các mối quan hệ này được duy trì trong khả năng tự điều chỉnh, hệ sinh thái giữ được cân bằng. Nếu vượt quá sức chịu đựng, hệ sinh thái có thể suy thoái. Chẳng hạn, nước thải giàu dinh dưỡng khiến tảo phát triển quá mức; khi tảo chết và bị phân hủy, ôxy trong nước giảm mạnh, làm cá và sinh vật đáy suy yếu hoặc chết. Hiện tượng này gọi là phú dưỡng.
Hệ sinh thái là một hệ thống sống vì nó có tổ chức, thường xuyên trao đổi với môi trường và có khả năng tự điều chỉnh, thích nghi, phục hồi trong những giới hạn nhất định.
Đặc điểm này thể hiện ở ba phương diện: vật chất được tuần hoàn qua quá trình sản xuất, tiêu thụ và phân giải; năng lượng mặt trời được chuyển thành năng lượng hóa học rồi truyền qua các bậc dinh dưỡng; thông tin và cơ chế phản hồi hình thành từ hành vi và sự tương tác giữa sinh vật với môi trường.
Khả năng cảm nhận và đáp ứng trước hết thuộc về từng sinh vật. Cá có thể rời vùng thiếu ôxy, thực vật hướng về ánh sáng, động vật thay đổi nơi sống khi nhiệt độ hoặc độ mặn biến động. Khi diễn ra ở nhiều cá thể và loài, các phản ứng này làm thay đổi quần thể, lưới thức ăn và toàn bộ hệ sinh thái. Hệ sinh thái không có cơ quan trung tâm tiếp nhận và xử lý thông tin, cũng không có ý thức hay khả năng suy nghĩ. Phản ứng của hệ thống hình thành từ mạng lưới tương tác và các cơ chế phản hồi giữa các thành phần. Nhờ đó, hệ sinh thái có thể tự điều chỉnh và phục hồi trong một giới hạn nhất định.
Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, mạng lưới sông ngòi dày đặc và trên 1 triệu ha đất ngập nước. Vì vậy, bảo vệ hệ sinh thái biển, ven biển và đất ngập nước có ý nghĩa quan trọng đối với đa dạng sinh học, sinh kế và chủ quyền quốc gia.
Khung pháp lý nền tảng
Luật Đa dạng sinh học năm 2008 quy định bảo tồn và sử dụng bền vững hệ sinh thái tự nhiên; nghiêm cấm lấn chiếm, phá hoại hệ sinh thái và nuôi, trồng loài ngoại lai xâm hại trong khu bảo tồn.
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 yêu cầu gắn quy hoạch, khai thác tài nguyên với bảo vệ môi trường, cảnh quan và dịch vụ hệ sinh thái biển, hải đảo và ven bờ.
Luật Thủy sản năm 2017 quy định việc quản lý nguồn lợi và hệ sinh thái thủy sinh tại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và khu bảo tồn đất ngập nước; đồng thời kiểm soát các hoạt động gây ảnh hưởng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngập nước.
Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 149/QĐ-TTg năm 2022) yêu cầu lồng ghép bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước vào quản lý khu bảo tồn, duy trì chế độ thủy văn tự nhiên và chất lượng nước.
Các nghị định chuyên ngành cũng quy định hạn chế sử dụng hóa chất gây suy thoái đất ngập nước và nghiêm cấm hành vi phá hủy hệ sinh thái, gây ô nhiễm trong khu bảo tồn.
Theo hướng dẫn thực hiện Công ước Ramsar tại Việt Nam, đất ngập nước quan trọng gồm khu vực có quy mô từ 50 ha ở vùng ven biển, ven đảo hoặc từ 5 ha ở vùng nội địa, đồng thời có hệ sinh thái tự nhiên, kiểu đất ngập nước đặc thù hoặc là nơi sinh sống thường xuyên của các loài đặc hữu, nguy cấp, quý, hiếm.
Sự thiếu đồng bộ trong chính sách và quản lý nhà nước
Quản lý còn mang tính đơn ngành, phân tán: Hệ sinh thái đất ngập nước ven biển chịu sự quản lý của nhiều ngành như tài nguyên và môi trường, nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, xây dựng và du lịch. Tuy nhiên, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến chồng chéo về thẩm quyền hoặc bỏ trống trách nhiệm quản lý.
Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ: Các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý đất đai, tài nguyên nước, rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường chưa được liên kết thành một cơ chế quản lý thống nhất. Một số quy định còn thiếu cụ thể, chưa xác định rõ ranh giới và chế độ quản lý đối với từng loại đất ngập nước.
Quy hoạch còn thiếu tính tích hợp: Quy hoạch sử dụng đất, phát triển đô thị, giao thông, du lịch, thủy sản và bảo tồn thiên nhiên đôi khi được lập riêng biệt, chưa xem xét đầy đủ mối liên hệ giữa các hoạt động kinh tế với chức năng sinh thái của vùng đất ngập nước.
Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế: Việc theo dõi biến động diện tích, chất lượng môi trường và đa dạng sinh học chưa được thực hiện thường xuyên. Cơ sở dữ liệu còn phân tán, thiếu cập nhật và chưa được chia sẻ hiệu quả giữa các cơ quan.
Nguồn lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu: Kinh phí, nhân lực chuyên môn, thiết bị quan trắc và năng lực thực thi pháp luật tại địa phương còn hạn chế. Một số hành vi lấn chiếm, san lấp, xả thải hoặc khai thác trái phép chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Nhiều diện tích rừng ngập mặn, bãi triều, đầm phá và cửa sông bị chuyển đổi để xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp, cảng biển, cơ sở du lịch, hạ tầng giao thông hoặc vùng nuôi trồng thủy sản. Quá trình này làm thu hẹp và chia cắt sinh cảnh tự nhiên.
Ưu tiên lợi ích kinh tế ngắn hạn: Giá trị sinh thái của đất ngập nước như phòng chống bão, chống xói lở, điều hòa nước, hấp thụ carbon và duy trì nguồn lợi thủy sản chưa được tính đầy đủ trong các quyết định đầu tư. Vì vậy, lợi ích trước mắt từ khai thác và chuyển đổi đất thường được ưu tiên hơn lợi ích bảo tồn lâu dài.
Ô nhiễm môi trường ngày càng lan rộng: Nước thải sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và nuôi trồng thủy sản chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu được thải vào sông, cửa biển và đầm phá. Chất thải rắn, rác thải nhựa, hóa chất nông nghiệp và dầu mỡ từ hoạt động hàng hải làm suy giảm chất lượng nước và trầm tích.
Khai thác tài nguyên quá mức: Đánh bắt thủy sản tận diệt, khai thác con non, sử dụng ngư cụ bị cấm, chặt phá rừng ngập mặn và khai thác cát thiếu kiểm soát làm suy giảm nguồn lợi sinh vật, phá vỡ chuỗi thức ăn và khả năng phục hồi tự nhiên của hệ sinh thái.
Sinh kế của cộng đồng còn phụ thuộc lớn vào tài nguyên: Người dân ven biển thường phụ thuộc trực tiếp vào đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và khai thác tài nguyên tự nhiên. Khi thiếu sinh kế thay thế, việc áp dụng các biện pháp hạn chế khai thác và bảo tồn thường gặp khó khăn.
Nước biển dâng và xâm nhập mặn: Nước biển dâng làm ngập các vùng đất thấp, thay đổi độ mặn và chế độ thủy văn, gây suy thoái rừng ngập mặn, bãi triều và các vùng sinh sản của nhiều loài thủy sinh.
Gia tăng thiên tai cực đoan: Bão mạnh, mưa lớn, triều cường, lũ lụt, hạn hán và sóng nhiệt xảy ra với cường độ và tần suất khó dự báo hơn. Những hiện tượng này gây xói lở bờ biển, phá hủy sinh cảnh và làm giảm khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái.
Không gian thích nghi tự nhiên bị thu hẹp: Khi nước biển dâng, rừng ngập mặn và các sinh cảnh ven biển cần dịch chuyển vào phía đất liền. Tuy nhiên, đê biển, đường giao thông, khu dân cư và công trình xây dựng đã cản trở quá trình dịch chuyển này, tạo ra hiện tượng “dồn ép ven biển”.
Thiếu các biện pháp thích ứng linh hoạt: Công tác quản lý vẫn chủ yếu dựa vào các công trình cứng như đê, kè và tường chắn sóng, trong khi chưa chú trọng đúng mức các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ bãi triều và tạo hành lang sinh thái.
Dự báo và kế hoạch ứng phó còn hạn chế: Việc lồng ghép các kịch bản biến đổi khí hậu vào quy hoạch và quản lý đất ngập nước chưa đầy đủ. Các kế hoạch thường thiếu cơ chế điều chỉnh linh hoạt khi điều kiện khí hậu, thủy văn và đường bờ biển thay đổi.
Các hạn chế có quan hệ và tác động lẫn. Vì vậy, cần áp dụng quản lý tổng hợp, dựa trên hệ sinh thái, gắn bảo tồn với sinh kế bền vững và thích ứng khí hậu.
Hoàn thiện pháp luật và quy hoạch: Rà soát quy định chồng chéo, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, địa phương và đẩy nhanh thành lập các khu bảo tồn biển, khu bảo tồn đất ngập nước.
Tăng cường thực thi và giám sát: Kiểm soát hoạt động khai thác, nuôi trồng, xây dựng và xả thải; xử lý nghiêm hành vi khai thác trái phép, phá hủy hệ sinh thái hoặc gây ô nhiễm môi trường nước.
Bảo đảm nguồn lực và phục hồi hệ sinh thái: Bố trí ngân sách ổn định, huy động doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nguồn lực quốc tế; ưu tiên phục hồi rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, cửa sông và vùng đất ngập nước quan trọng.
Phát huy vai trò cộng đồng: Khuyến khích người dân tham gia quản lý, giám sát và khai thác bền vững; phát triển mô hình đồng quản lý gắn với sinh kế xanh, du lịch sinh thái và nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường.
Đẩy mạnh điều tra và ứng dụng khoa học – công nghệ: Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, tăng cường quan trắc và ứng dụng công nghệ số, ảnh viễn thám để theo dõi biến động hệ sinh thái, cảnh báo ô nhiễm và hỗ trợ ra quyết định.
Vấn đề cốt lõi để bảo tồn và khai thác bền vững hệ sinh thái vùng ngập nước biển Việt Nam là đồng bộ hóa quy hoạch không gian biển, thiết lập các khu bảo tồn, phục hồi sinh cảnh và phát triển kinh tế sinh thái có sự tham gia của cộng đồng.
Anh Vũ