Kỹ thuật trồng rong sụn đạt năng suất cao

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Không đòi hỏi đầu tư quá lớn, rong sụn đang được phát triển tại nhiều vùng ven biển. Áp dụng đúng kỹ thuật sẽ giúp rong sinh trưởng nhanh, hạn chế hao hụt và nâng cao năng suất.

Lựa chọn khu vực nuôi

Khu vực nuôi trồng rong sụn cần đảm bảo môi trường nước sạch, ổn định và phù hợp với đặc tính sinh trưởng của rong. Vùng nước có độ mặn lý tưởng từ 25 – 35‰ giúp rong phát triển tốt, tránh bị phân hủy hay còi cọc. Khu vực ít hoặc không chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước ngọt. Đối với các vùng trồng theo mùa, tránh mùa lũ lụt, xa các nguồn nước ngọt trực tiếp đổ ra biển.

Vùng nuôi trồng có nước di chuyển và lưu thông tốt, thường xuyên với tốc độ dòng chảy vừa phải (lưu tốc trong khoảng 20 – 40 m/phút).

Nên chọn vùng trồng đã có rong biển và cỏ biển phân bố tự nhiên. Đối với các bãi ngang, vùng triều cạn, khi thủy triều rút thấp nhất nước phải còn lại ở độ sâu ít nhất 0,5 m, đảm bảo rong không bị phơi ra ngoài không khí. Biên độ thủy triều không nên lớn quá 2 m, nếu cao quá sẽ khó khăn trong hoạt động trồng, chăm sóc, thu hoạch.

Phương pháp nuôi trồng

Có nhiều phương pháp trồng rong sụn phù hợp với từng điều kiện môi trường. Mỗi phương pháp có ưu điểm riêng, tùy thuộc vào điều kiện môi trường và quy mô sản xuất mà người nuôi lựa chọn hình thức phù hợp:

Dàn căng trên đáy (dàn đáy): Đây là hình thức phổ biến khi nuôi rong sụn ở vùng bãi ngang, vùng triều, đầm phá hoặc ven vịnh.

Trồng bằng bè hoặc giàn nổi: Với khu vực nước sâu hơn, nền đáy không thuận lợi hoặc cần đưa rong lên tầng nước thích hợp, có thể sử dụng bè nổi. Khung bè thường làm bằng tre hoặc vật liệu nổi, bên dưới bố trí các dây trồng; toàn bộ hệ thống được neo giữ để không bị trôi.

Trồng rong sụn trong lồng lưới: Ở vùng biển hoặc vùng gần bờ, có thể trồng rong trong các lồng lưới cao khoảng 1 m, đường kính khoảng 50 cm, đặt cách nhau khoảng 1 m và cách bờ khoảng 20 – 30 m. Cách này giúp ngăn cá từ bên ngoài xâm nhập, đồng thời thoáng khí và dễ kiểm tra, vệ sinh rong hàng ngày.

Trồng rong sụn luân canh trong ao nuôi tôm: Có thể trồng rong sụn luân canh trong ao nuôi tôm trong thời gian nghỉ nuôi tôm (thời gian nghỉ > 6 tháng).

Mùa vụ

Mùa vụ cần căn cứ đặc điểm nhiệt độ, độ mặn và chế độ gió của từng địa phương. Đối với khu vực miền Bắc, rong sụn thường tập trung 3 vụ chính: Vụ 1 từ tháng 3 đến tháng 5; Vụ 2 từ tháng 6 đến tháng 8 và vụ 3 từ tháng 9 đến tháng 11. Ở khu vực Trung và Nam Trung bộ, mùa trồng chính thường kéo dài từ khoảng tháng 10 đến tháng 3 năm sau; mùa phụ rơi vào những tháng có điều kiện nhiệt độ cao hơn. Ở Nam bộ, thời gian sản xuất có thể kéo dài hơn tùy vùng.

Chọn giống

Nguồn giống rong sụn cần được thu hoạch từ các vùng nuôi ổn định, có điều kiện sinh trưởng tương tự với nơi thả nuôi để tránh tình trạng sốc môi trường. Nếu lấy giống từ các vùng xa hoặc có điều kiện nước khác biệt, rong có thể bị suy yếu, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng.

Không nên lấy giống từ những dây rong có biểu hiện bệnh, sinh trưởng chậm hoặc bị tổn thương cơ học. Đặc biệt, không nên sử dụng rong đã bị phơi khô, mất nước kéo dài làm giống cho vụ mới.

Chọn các bụi rong khỏe, nhánh xum xuê, nguyên vẹn, không xây xát, không có dấu hiệu bệnh, không có rong tạp bám, màu sắc đen, nâu, xanh nâu, xanh (giống màu vỏ ve chai), xanh lục thẫm, mượt, đường kính thân rong 3 – 5 mm, nhánh dài 5 – 7 cm trở lên. Rong giống là những bụi có khối lượng trung bình 100 – 140 g bụi, được tách bẻ hoặc dùng dao bén cắt chọn từ chùm rong lớn và buộc bằng dây nhựa mềm.

Khi vận chuyển rong giống từ nơi khác đến khu vực trồng, cần thực hiện các biện pháp che nắng và duy trì độ ẩm nhằm hạn chế rong bị mất nước, ảnh hưởng đến chất lượng giống. Với quãng đường gần, thời gian vận chuyển ngắn, có thể cho rong sau khi vớt vào bao tải dệt và che đậy trong suốt quá trình di chuyển, tránh để rong tiếp xúc trực tiếp với nắng, nóng, gió hoặc nước mưa. Trường hợp vận chuyển quãng đường xa, thời gian kéo dài, cần định kỳ tưới nước biển để duy trì độ ẩm và độ tươi của rong.

Nếu vận chuyển đường dài 100 km phải dùng xe tải có thùng lạnh giữ rong giống ở nhiệt độ 20 – 22ºC. Khi đến nơi trồng lập tức cho rong xuống nước, có thể chuẩn bị một giai lưới đặt dưới nước để cho rong vào giữ cho rong lại sức trước khi đưa ra trồng.

Cố định rong giống

Rong giống thường được cắt thành từng đoạn có kích thước phù hợp, sau đó buộc trực tiếp vào dây trồng bằng dây mềm hoặc vật liệu không gây tổn thương thân rong.

Điểm buộc cần chắc để rong không bị tuột khi có sóng, nhưng không được siết quá chặt. Khi rong tăng trưởng, phần thân và nhánh sẽ lớn nhanh; nếu dây buộc ăn sâu vào mô rong có thể tạo vết thương, làm giảm khả năng phát triển và tạo điều kiện cho sinh vật gây hại xâm nhập.

Quản lý

Sau khi xuống giống, cần kiểm tra thường xuyên tình trạng dây, cọc, phao và các điểm buộc. Những bụi rong bị tuột phải được buộc lại; phần rong bị gãy, thối hoặc sinh trưởng kém cần loại bỏ kịp thời. Bổ sung các bụi rong bị gãy mất, sửa lại các cọc bị ngã, lưới bị rách… Phát hiện có nhiều cá ăn rong, phải dùng lưới đánh bắt bớt cá. Thường xuyên loại bỏ rong tạp, các loại cành cây mục, nilon bám vào rong.

Bên cạnh đó, cần theo dõi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn, độ trong và dòng chảy.

Dọn rong tạp thông qua điều chỉnh dây giống khoảng cách mặt nước và thu tỉa theo định kỳ sẽ hạn chế rong tạp ở các giàn bè nuôi trồng.

Nhận biết và xử lý rong suy yếu

Trong quá trình trồng, rong có thể xuất hiện hiện tượng bạc màu, mềm nhũn, gãy nhánh hoặc giảm tốc độ tăng trưởng. Nguyên nhân liên quan đến môi trường bất lợi, ánh sáng không phù hợp, độ mặn thay đổi đột ngột, dòng chảy yếu, rong bị sinh vật bám hoặc mật độ trồng quá cao.

Khi phát hiện rong bất thường, trước hết cần xác định nguyên nhân thay vì xử lý bằng hóa chất. Nếu vấn đề liên quan đến mật độ, nên tỉa bớt rong. Nếu do sinh vật bám, cần làm sạch nhẹ nhàng. Trường hợp hệ thống dây bị chìm hoặc rong tiếp xúc đáy, phải điều chỉnh lại độ cao.

Những bụi bị thối nhũn hoặc tổn thương nặng nên được loại bỏ khỏi khu vực trồng nhằm hạn chế ảnh hưởng đến các bụi khỏe. Không sử dụng rong bệnh làm giống cho vụ tiếp theo.

Thu hoạch

Chu kỳ sinh trưởng phụ thuộc mạnh vào vùng trồng. Với rong giống ban đầu khoảng 80 – 100 g/bụi, ở điều kiện thuận lợi, rong có thể đạt khoảng 1 kg/bụi và được thu hoạch; tại vùng nước cạn, dòng chảy yếu hoặc trong thời kỳ nhiệt độ cao, thời gian đạt kích thước thu hoạch có thể kéo dài khoảng 2 – 2,5 tháng.

Người nuôi không nhất thiết thu toàn bộ một lần. Có thể áp dụng phương thức thu tỉa, giữ lại phần rong khỏe làm giống cho chu kỳ tiếp theo. Cách làm này giúp duy trì vật liệu giống tại chỗ, giảm chi phí mua giống và rút ngắn thời gian tái sản xuất.

Sơ chế và bảo quản

Sau khi thu hoạch, rong cần được rũ sạch cát, bùn, sinh vật bám và các tạp chất khác. Không nên để rong thành đống quá lâu vì quá trình hô hấp và phân hủy có thể làm giảm chất lượng nguyên liệu.

Rong sau sơ chế được phơi hoặc sấy đến độ khô phù hợp. Sân phơi cần sạch, tránh tiếp xúc trực tiếp với đất bẩn và hạn chế lẫn cát, rác. Đây là khâu quan trọng bởi rong sụn khô là nguyên liệu trực tiếp cho chế biến thực phẩm và carrageenan.

Rong sụn là loài rong biển nhiệt đới, sinh trưởng tốt trong vùng nước ven biển có độ mặn tương đối ổn định, giàu dinh dưỡng và có sự trao đổi nước thường xuyên. Ở Việt Nam, đối tượng này phù hợp với nhiều khu vực ven biển miền Trung và Nam Trung bộ, đặc biệt tại những vùng vũng, vịnh, đầm phá, bãi triều và khu vực ven đảo ít chịu tác động trực tiếp của sóng gió.

Nguyễn Hằng

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài