(TSVN) – Tôm hùm Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn khi nhu cầu thị trường tăng cao và xuất khẩu liên tục lập những dấu mốc mới. Để giữ lợi thế, ngành hàng này cần chuyển từ tăng trưởng nóng sang phát triển theo chiều sâu.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt 858 triệu USD – mức cao nhất từ trước đến nay. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, con số này đã đạt 584,6 triệu USD, tăng hơn 44% so với cùng kỳ. Nếu duy trì đà tăng trưởng, cánh cửa 1 tỷ USD đang trở nên rõ nét.
Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng là nghịch lý: ngành hàng có thị trường tốt lại đang phụ thuộc lớn vào nguồn giống bên ngoài, sản xuất còn manh mún, vùng nuôi chịu áp lực môi trường và gần như lệ thuộc vào một thị trường xuất khẩu.
Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư tại Hội nghị “Phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững”, cả nước có khoảng 303.876 ô lồng nuôi tôm hùm, sản lượng thương phẩm khoảng 14.537 tấn. Tôm hùm Việt Nam đã được tiêu thụ tại hơn 20 thị trường. Riêng 6 tháng đầu năm nay, sản lượng thương phẩm ước đạt 11.790 tấn, tương đương 81,1% sản lượng cả năm ngoái.
Kim ngạch xuất khẩu 584,6 triệu USD trong nửa đầu năm cho thấy, sức bật rất mạnh của ngành hàng. Trong đó, Trung Quốc đạt khoảng 576 triệu USD, chiếm gần như toàn bộ kim ngạch xuất khẩu tôm hùm nước ta. Sức hút của thị trường này không khó lý giải, bởi nhu cầu tiêu thụ tôm hùm sống lớn, khoảng cách địa lý gần, giúp Việt Nam có lợi thế về thời gian và chi phí vận chuyển. Mặt khác tôm hùm xanh với kích cỡ nhỏ và vừa, phù hợp phân khúc tiêu dùng và khả năng quay vòng hàng của hệ thống thương mại.
Theo số liệu của VASEP, năm 2025 Trung Quốc nhập khẩu khoảng 69.800 tấn tôm hùm, riêng Việt Nam cung cấp 24.100 tấn, chiếm 34,5%, đứng đầu các nguồn cung được thống kê. Đây là lợi thế, tuy nhiên, sự tập trung quá lớn vào một thị trường cũng đặt ngành hàng trước bài toán “tăng trưởng nhanh nhưng cần tránh phụ thuộc”.
Trong cơ cấu sản phẩm, tôm hùm xanh đang giữ vai trò áp đảo. Năm 2025, mặt hàng này chiếm 98,3% kim ngạch xuất khẩu tôm hùm, đạt 843,2 triệu USD. Sáu tháng đầu năm 2026, tôm hùm xanh tiếp tục chiếm phần lớn giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc. Như vậy, dư địa tăng trưởng của ngành không chỉ nằm ở việc nuôi thêm tôm, mà còn ở khả năng nâng chất lượng, chuẩn hóa vùng nuôi, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Nếu thị trường đang mở ra cánh cửa lớn thì nguồn giống lại là một trong những chiếc khóa khó mở nhất. Cả nước cần khoảng 100 – 120 triệu con giống tôm hùm mỗi năm, trong khi nguồn giống khai thác tự nhiên trong nước chỉ đáp ứng khoảng 8 – 12 triệu con. Công nghệ sản xuất giống nhân tạo chưa hoàn thiện để có thể triển khai ở quy mô thương mại.
Tình trạng này khiến ngành nuôi phụ thuộc đáng kể vào nguồn giống nhập khẩu. Đáng chú ý, trong 6 tháng đầu năm nay, chưa ghi nhận lô tôm hùm giống nhập khẩu chính ngạch phục vụ nuôi thương phẩm. Nguồn cung khan hiếm đã đẩy giá giống lên khoảng 45.000 – 70.000 đồng/con, tùy loài, kích cỡ và thời điểm.
Khánh Hòa cần khoảng 60 – 70 triệu con giống mỗi năm, nhưng nguồn khai thác tự nhiên hiện chỉ đáp ứng 5% nhu cầu. Năm 2025, địa phương nhập khoảng 33,07 triệu con; nhưng 6 tháng đầu năm 2026 lượng nhập khẩu chính ngạch được báo cáo ở mức 0.
Ông Hoàng Anh Hào, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản, Biển và Hải đảo Khánh Hòa nhìn nhận, khó khăn căn bản của nghề nuôi hiện nay là khoa học công nghệ chưa làm chủ được quy trình sản xuất giống nhân tạo. Trong khi đó, nguồn giống tự nhiên ngày càng khan hiếm, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, môi trường.
Đây không đơn thuần là câu chuyện thiếu một loại vật tư đầu vào. Khi con giống khan hiếm và giá cao, chi phí sản xuất tăng, rủi ro về chất lượng và nguồn gốc giống cũng tăng theo. Xa hơn, sự phụ thuộc này có thể trở thành điểm yếu của cả chuỗi giá trị nếu nguồn cung từ nước ngoài thay đổi chính sách.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam cho biết, Indonesia hiện là nguồn cung tôm hùm giống quan trọng của nước ta. Do vậy, nên nghiên cứu mô hình liên doanh, đầu tư cơ sở ươm giống tại Indonesia để chủ động hơn về chất lượng và nguồn cung trước khi đưa tôm về Việt Nam tiếp tục dưỡng nuôi.
Về dài hạn, các địa phương và cơ quan chuyên môn đề xuất cần có nhiệm vụ khoa học, công nghệ cấp quốc gia làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo. Đây sẽ là giải pháp căn cơ, giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nguồn cung bên ngoài.
Cần tập huấn, hướng dẫn lại cho bà con về kỹ thuật khai thác tôm hùm giống để nâng cao tỷ lệ sống, giảm áp lực đối với nguồn tôm giống nhập khẩu. Đồng thời, tổ chức liên kết vùng nuôi để đăng ký truy xuất nguồn gốc, từ cơ sở nuôi, cơ sở đóng gói đến cơ sở xuất khẩu, bảo đảm minh bạch. Dài hạn, phát triển ngành tôm hùm không thể chỉ dựa vào lợi thế tự nhiên hay giá bán cao. Nguồn giống phải được kiểm soát, vùng nuôi được quy hoạch, người nuôi phải được tổ chức lại và doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; công nghệ nuôi, quản lý môi trường và truy xuất nguồn gốc cần được xem là những mắt xích quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư
Khánh Hòa và Đắk Lắk hiện chiếm khoảng 95% sản lượng tôm hùm thương phẩm của cả nước. Quy mô tập trung tạo lợi thế hình thành vùng sản xuất hàng hóa, nhưng đồng thời cũng bộc lộ rõ giới hạn của phương thức phát triển tự phát. Tại một số khu vực, mật độ lồng cao, trong khi thức ăn tươi sống vẫn được sử dụng phổ biến. Chất thải hữu cơ tích tụ, môi trường biến động cùng nguy cơ dịch bệnh có thể khiến thành quả sản xuất bị đảo ngược chỉ sau một vụ nuôi.
Với người nuôi, câu chuyện bền vững trước hết bắt đầu từ quyền được sản xuất trong vùng nuôi rõ ràng. Ông Nguyễn Xuân Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Vạn Ninh, Khánh Hòa cho hay, hợp tác xã đã thu hút hơn 100 hộ với hàng vạn ô lồng trên vịnh Vân Phong. Tuy nhiên, khi chưa được giao mặt nước ổn định, người nuôi không yên tâm đầu tư lâu dài.
Một trong những thay đổi quan trọng được kỳ vọng tạo bước ngoặt cho nghề nuôi là thức ăn. Sử dụng cá, vẹm, hàu và các loại thức ăn tươi sống phù hợp với tập quán lâu năm nhưng cũng kéo theo nhiều hệ lụy về chi phí, chất lượng thức ăn, dịch bệnh và môi trường.
TS. Mai Duy Minh, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam chia sẻ, đơn vị đã nghiên cứu thức ăn công nghiệp cho tôm hùm xanh và tôm hùm bông. Kết quả, cả hai loài đều chấp nhận thức ăn công nghiệp. Thách thức hiện nay là độ bền của viên thức ăn trong nước mới khoảng 45 – 50 phút. Nhóm nghiên cứu đang hướng tới nâng thời gian này lên 3 – 4 giờ, kết hợp máy cho ăn tự động.
Khi thương mại quốc tế chuyển mạnh sang cạnh tranh bằng tiêu chuẩn, một con tôm hùm muốn đi xa cần có đầy đủ thông tin đi cùng. Đó là nguồn gốc giống, cơ sở nuôi, vùng nuôi, quá trình chăm sóc, thức ăn, dịch bệnh, an toàn thực phẩm và cơ sở đóng gói. Đặc biệt, tôm hùm bông đang đứng trước yêu cầu chứng minh nguồn gốc thế hệ F2 gắn với các quy định bảo tồn loài của thị trường Trung Quốc. Rào cản kỹ thuật này cần được xử lý bằng hồ sơ khoa học, dữ liệu minh bạch và sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp.
Tôm hùm là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển quốc gia. Tỷ USD có thể là đích đến, nhưng phát triển bền vững mới là điều kiện để ngành hàng đi được đường dài. Khi người nuôi có vùng sản xuất ổn định, doanh nghiệp có nguồn hàng đạt chuẩn, Nhà nước có công cụ quản lý hiệu quả và thị trường nhìn thấy sự minh bạch trong từng con tôm, lợi thế tự nhiên của biển Việt Nam mới thực sự được chuyển hóa.
Thùy Khánh