El Niño có thể gây sức ép lớn lên nuôi trồng thủy sản trong mùa khô 2026 – 2027

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Dự báo El Niño có khả năng đạt cường độ rất mạnh trong những tháng cuối năm 2026, kéo dài sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn tại nhiều khu vực. Trước những rủi ro này, ngành thủy sản cần chủ động điều chỉnh mùa vụ, mật độ nuôi, tăng cường quan trắc môi trường và ứng dụng công nghệ tiết kiệm nước để hạn chế thiệt hại cho người nuôi.

El Niño làm gia tăng nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện tượng ENSO đã chuyển sang trạng thái El Niño. Trong giai đoạn từ tháng 10 – 12/2026, El Niño được dự báo có cường độ rất mạnh, với xác suất lên tới 98%. Sang thời kỳ từ tháng 1 – 3/2027, hiện tượng này có khả năng tiếp tục duy trì cường độ rất mạnh, dù có thể suy giảm so với giai đoạn cuối năm 2026. El Niño nhiều khả năng còn kéo dài đến những tháng đầu mùa hè năm 2027.

Diễn biến này làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trên diện rộng trong mùa khô 2026 – 2027. Từ tháng 11/2026 đến khoảng tháng 5/2027, các khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, cao nguyên Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ có nguy cơ chịu ảnh hưởng. Tại Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ, tình trạng này có thể kéo dài đến hết tháng 7 – 8/2027.

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, hạn hán và thiếu nước phụ thuộc đáng kể vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Cửu Long, diễn biến thủy triều và mức độ xâm nhập mặn tại các cửa sông. Tác động dự kiến bắt đầu từ cuối tháng 12/2026 và đạt cao điểm trong giai đoạn tháng 1 – 4/2027.

Theo dự báo, nguồn nước về Đồng bằng sông Cửu Long có thể thấp hơn 15 – 20% so với trung bình nhiều năm. Xâm nhập mặn được nhận định có khả năng tương đương mùa khô năm 2015 – 2016. Ranh mặn 4 g/l tại các cửa sông Cửu Long có thể xâm nhập sâu 50 – 70 km, xa hơn 7 – 13 km so với trung bình nhiều năm. Tại các cửa sông Vàm Cỏ, ranh mặn có thể vào sâu 110 – 130 km, xa hơn 30 – 42 km so với mức trung bình.

Cần linh hoạt về thời vụ và phương thức nuôi trồng thủy sản theo diễn biến nguồn nước và điều kiện môi trường. Ảnh: Ảnh: Huế Ngày Nay

Nguy cơ thiếu nước không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất lúa và cây ăn trái mà còn đặt ra thách thức đối với các vùng nuôi trồng thủy sản, nhất là những khu vực phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên và có hệ thống cấp, thoát nước chưa đáp ứng yêu cầu. Dự báo xâm nhập mặn có thể gây nguy cơ hạn hán, thiếu nước cho khoảng 85.800 ha lúa Đông Xuân, 120.000 ha diện tích lúa – tôm tại các khu vực chủ yếu sử dụng nước mưa và khoảng 45.000 ha cây ăn trái ở các vùng ven biển. Lượng mưa thiếu hụt trong mùa khô cũng có thể ảnh hưởng đến nguồn nước dự trữ nội đồng tại An Giang và Cà Mau.

Nuôi trồng thủy sản đối mặt nhiều rủi ro

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong điều kiện El Niño mạnh và kéo dài, lượng mưa thiếu hụt, dòng chảy mùa khô suy giảm cùng tình trạng xâm nhập mặn xuất hiện sớm, vào sâu và kéo dài có thể tác động trực tiếp đến hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Với các vùng nuôi nước ngọt nằm trong khu vực có nguy cơ xâm nhập mặn, rủi ro lớn nhất là thiếu nguồn nước cấp bảo đảm chất lượng. Trong khi đó, các vùng nuôi nước mặn, nước lợ có thể phải đối mặt với biến động mạnh về độ mặn, nhiệt độ và chất lượng nước. Những thay đổi này không chỉ gây khó khăn cho việc duy trì môi trường nuôi ổn định mà còn làm tăng chi phí cấp nước, xử lý nước và thay nước.

Khi môi trường biến động bất lợi, nguy cơ phát sinh dịch bệnh và thủy sản chết có thể tăng lên. Việc thả giống trong điều kiện nguồn nước chưa bảo đảm hoặc duy trì mật độ nuôi cao cũng làm gia tăng rủi ro sản xuất. Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo tùy theo diễn biến thực tế, một số vùng nuôi có thể phải giãn vụ, giảm mật độ, thu hoạch sớm hoặc chuyển đổi đối tượng và phương thức nuôi.

Quy mô thiệt hại tiềm tàng được thể hiện qua các dự báo dài hạn về tác động của thiên tai. Kết quả nghiên cứu đến năm 2030 cho thấy, trong điều kiện năm ít nước và chưa tính đến tác động giảm thiểu của hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, diện tích nuôi trồng thủy sản có nguy cơ bị thiệt hại có thể lên tới khoảng 67.534 ha, tương ứng kinh phí thiệt hại khoảng 871,8 tỷ đồng. Phần lớn diện tích có nguy cơ tập trung tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 839.400 ha.

Tuy đây chỉ là kết quả dự báo dài hạn, vẫn cần tiếp tục được cập nhật và điều chỉnh theo diễn biến thực tế, không phải dự báo thiệt hại trực tiếp cho mùa khô 2026 – 2027. Vậy nhưng, các con số cho thấy quy mô rủi ro mà ngành nuôi trồng thủy sản có thể phải đối mặt nếu không chuẩn bị đầy đủ phương án ứng phó với tình trạng thiếu nước và xâm nhập mặn.

Bên cạnh đó, nhận định dài hạn cho thấy lượng mưa phổ biến trong giai đoạn tháng 2 – 4/2027 có thể thấp hơn trung bình nhiều năm. Từ khoảng cuối tháng 5 đến tháng 6/2027, bão và áp thấp nhiệt đới có khả năng xuất hiện trở lại theo quy luật khí hậu. Do dự báo dài hạn còn có tính bất định, việc thường xuyên cập nhật thông tin khí tượng thủy văn, đặc biệt là các bản tin dự báo, cảnh báo ngắn hạn từ 1 – 3 ngày và các bản tin chuyên đề, có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tổ chức sản xuất.

Chủ động điều chỉnh mùa vụ để thích ứng

Trước nguy cơ tác động của El Niño, giải pháp trọng tâm mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra là rà soát, xác định các vùng nuôi có nguy cơ chịu ảnh hưởng của hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn; phân vùng theo điều kiện sinh thái và mức độ rủi ro để xây dựng phương án sản xuất phù hợp với từng kịch bản nguồn nước.

Trong đó, lịch thời vụ, mật độ nuôi, đối tượng nuôi và phương thức nuôi cần được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến nguồn nước và điều kiện môi trường. Các khu vực chưa bảo đảm nguồn nước không nên mở rộng diện tích hoặc thả giống, tránh phát sinh rủi ro ngay từ đầu vụ.

Khuyến khích các mô hình nuôi thủy sản phù hợp với điều kiện sinh thái nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: CTV

Cùng với đó, cần tăng cường quan trắc và cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi tập trung, khu vực có nguy cơ cao. Việc kết hợp dữ liệu quan trắc với dự báo khí tượng thủy văn, nguồn nước và xâm nhập mặn sẽ giúp hình thành hệ thống “quan trắc – cảnh báo – hành động”. Thông tin cảnh báo cần gắn với khuyến cáo cụ thể về thời điểm lấy nước, thay nước, thả giống, điều chỉnh mật độ, quản lý thức ăn và thu hoạch. Công tác này được triển khai theo kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường tại Quyết định số 966/QĐ-BNNMT ngày 23/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Mặt khác, Bộ cũng khuyến khích áp dụng công nghệ nuôi tuần hoàn, bán tuần hoàn, tiết kiệm nước, xử lý và tái sử dụng nước nhằm giảm lượng nước sử dụng trong quá trình nuôi. Đây là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh nguồn nước có thể suy giảm và chất lượng nước biến động theo diễn biến thời tiết.

Đối với tổ chức sản xuất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến cáo người nuôi cần tránh thả giống theo lịch cố định khi nguồn nước chưa đáp ứng yêu cầu; chủ động điều chỉnh thời vụ, giảm mật độ tại vùng có nguy cơ cao và thu hoạch sớm những diện tích đã đạt kích cỡ thương phẩm khi xuất hiện cảnh báo môi trường bất lợi. Trong đó, khuyến khích các mô hình phù hợp với điều kiện sinh thái như tôm – lúa, tôm – rừng, quảng canh cải tiến, nuôi nhiều giai đoạn và nuôi an toàn sinh học nhằm giảm rủi ro và nâng cao khả năng thích ứng với điều kiện môi trường.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhấn mạnh, trong suốt thời kỳ nắng nóng, thiếu nước và biến động độ mặn, việc giám sát sức khỏe thủy sản cần được tăng cường. Do đó, cơ sở nuôi cần sử dụng con giống có chất lượng, nguồn gốc rõ ràng; quản lý thức ăn, chất thải và nền đáy. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, cần kịp thời xác định nguyên nhân và xử lý theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; không xả nước từ ao nuôi bị bệnh hoặc ô nhiễm chưa qua xử lý ra môi trường.

Về lâu dài, việc lựa chọn đối tượng nuôi có khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường, phát triển công nghệ tiết kiệm nước và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro cho người nuôi. Đối với chuyển đổi đất nông nghiệp bị nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản, cần thực hiện theo quy hoạch, bảo đảm hạ tầng cấp, thoát nước và hạn chế xung đột giữa vùng nuôi nước mặn, nước lợ với vùng sản xuất nước ngọt.

Trong bối cảnh El Niño có khả năng kéo dài qua mùa khô 2026 – 2027, việc chủ động theo dõi diễn biến nguồn nước, tăng cường cảnh báo môi trường và linh hoạt phương án sản xuất là những yêu cầu quan trọng nhằm hạn chế thiệt hại, bảo đảm an toàn cho các vùng nuôi và nâng cao khả năng thích ứng của ngành thủy sản trước những biến động khí hậu.

Hồng Hà

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài