(TSVN) – Dịch bệnh có thể gây thiệt hại lớn và làm gián đoạn sản xuất thủy sản nếu không được kiểm soát từ sớm. Xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh giúp chủ động ngăn mầm bệnh xâm nhập, phát hiện sớm nguy cơ và có phương án xử lý khi phát sinh. Đây cũng là nền tảng để duy trì sản xuất ổn định. Bài viết giới thiệu những nội dung cần thực hiện để xây dựng, công nhận và duy trì cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh thủy sản.
Xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh thủy sản là quá trình kiểm soát mầm bệnh từ đầu vào, quá trình sản xuất đến giám sát, ứng phó và truy xuất. Nếu cơ sở tập trung kiểm soát trong phạm vi một đơn vị nuôi, vùng đòi hỏi sự phối hợp phòng, chống và giám sát dịch bệnh giữa nhiều cơ sở trên cùng địa bàn.
Với cơ sở, cần xác định rõ địa điểm, đối tượng thủy sản nuôi và bệnh đăng ký công nhận an toàn. Địa điểm phải đáp ứng yêu cầu về thú y, thủy sản và hạn chế nguy cơ lây nhiễm từ bên ngoài. Khi lựa chọn, cần xem xét nguồn nước, hệ thống cấp, thoát nước, cơ sở nuôi lân cận, hoạt động vận chuyển và các nguồn có khả năng đưa mầm bệnh vào.
Các nguồn nguy cơ như con giống, thủy sản đưa vào, nước, thức ăn, người, phương tiện, dụng cụ, động vật hoang dã và chất thải cần được nhận diện để lựa chọn bệnh cần kiểm soát, làm cơ sở xây dựng kế hoạch an toàn sinh học và giám sát.
Với vùng, phạm vi có thể xác định ở cấp xã, phường, đặc khu hoặc cấp tỉnh, với ranh giới, diện tích, số cơ sở, đối tượng nuôi và hệ thống cấp, thoát nước rõ ràng. Cơ quan cấp giấy xác định vùng nuôi trồng thủy sản, còn Ủy ban nhân dân nơi đăng ký tổ chức xây dựng theo phân công, phân cấp.
Các cơ sở giết mổ, chợ kinh doanh và cơ sở thu gom động vật mẫn cảm với bệnh trong vùng phải được giám sát và tuân thủ quy định về thú y.
Tại cơ sở, khu vực nuôi cần được bố trí tách biệt với những khu vực có nguy cơ mang mầm bệnh vào hoặc lây nhiễm chéo. Thủy sản mới đưa vào nên có khu vực cách ly, theo dõi sức khỏe riêng và chỉ chuyển sang khu nuôi sau khi đáp ứng yêu cầu kiểm soát dịch bệnh.
Các khu vực có nguy cơ lây nhiễm như kho vật tư, khu cách ly, khu mổ khám, nơi xử lý xác thủy sản, khu vệ sinh và khử trùng dụng cụ được bố trí riêng, có biển cảnh báo phù hợp. Khu xử lý xác thủy sản và chất thải phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường và thú y.
Lấy mẫu tôm định kỳ góp phần phát hiện sớm mầm bệnh trong quá trình nuôi. Ảnh: Báo Hà Tĩnh
Hệ thống cấp, thoát và xử lý nước được thiết kế, vận hành phù hợp để hạn chế mầm bệnh theo nguồn nước xâm nhập hoặc phát tán ra môi trường. Cơ sở phải có biện pháp ngăn động vật hoang dã, vật chủ trung gian và các loài động vật khác xâm nhập khu nuôi. Tại lối ra vào, bố trí khu vực hoặc thiết bị khử trùng cho người, phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị và vật tư. Dụng cụ, thiết bị và phương tiện vận chuyển phục vụ nuôi phù hợp với đối tượng thủy sản, thuận tiện cho vệ sinh, khử trùng.
Với vùng, yêu cầu không chỉ nằm ở điều kiện của từng cơ sở mà còn liên quan đến hạ tầng chung và sự kết nối giữa các cơ sở. Vì vậy, việc rà soát tập trung vào hệ thống cấp, thoát và xử lý nước; thu gom, xử lý nước thải, chất thải; cũng như nguồn cung con giống, thức ăn, thuốc thú y, hóa chất và chế phẩm dùng trong nuôi trồng thủy sản. Các điểm thu gom, kinh doanh thủy sản và những khu vực có khả năng tạo đường lây truyền giữa các cơ sở cũng cần được nhận diện, kiểm soát phù hợp.
Xây dựng, rà soát, điều chỉnh kế hoạch an toàn sinh học:
Nếu là chủ cơ sở, bước đầu tiên người nuôi cần làm là xây dựng và thực hiện kế hoạch an toàn sinh học phù hợp với điều kiện ao nuôi, cơ sở của mình. Trong quá trình sản xuất, cần thường xuyên rà soát để kịp thời bổ sung, điều chỉnh khi điều kiện nuôi thay đổi hoặc xuất hiện mối nguy mới từ bên trong và khu vực xung quanh. Các nội dung thực hiện cũng cần được ghi chép, lưu giữ đầy đủ để thuận tiện theo dõi và đánh giá.
Với vùng nuôi, kế hoạch an toàn sinh học được xây dựng và tổ chức thực hiện theo sự phân công, phân cấp. Nội dung cần phù hợp với điều kiện sản xuất chung của vùng, đồng thời cập nhật các mối nguy mới và phương án ứng phó khi cần thiết. Việc ghi chép, lưu giữ thông tin giúp các bên liên quan theo dõi quá trình thực hiện và phục vụ đánh giá an toàn dịch bệnh.
Nội dung kế hoạch an toàn sinh học: Kế hoạch cần tập trung vào các biện pháp chủ động phòng bệnh cho thủy sản theo quy định. Trước hết, cơ sở, vùng cần nhận diện và đánh giá các nguy cơ có thể làm tác nhân gây bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc lây lan bên trong. Từ đó, xác định biện pháp kiểm soát, ngăn chặn phù hợp.
Bên cạnh đó, cần tổng hợp và cung cấp đầy đủ thông tin, số liệu, bằng chứng liên quan đến nguy cơ dịch bệnh; khả năng tác nhân gây bệnh xâm nhập vào hoặc phát tán ra khỏi cơ sở, vùng qua các hoạt động sản xuất.
Người trực tiếp nuôi trồng thủy sản và những người có liên quan cũng cần được tập huấn, phổ biến kiến thức, kỹ năng về kiểm soát các bệnh đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh.
Kế hoạch giám sát dịch bệnh cần được xây dựng phù hợp với mục tiêu của cơ sở, vùng đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh. Nội dung giám sát nhằm xác định có hay không có tác nhân gây bệnh đã đăng ký công nhận an toàn; đồng thời đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch sau tiêm vaccine đối với những bệnh đăng ký công nhận an toàn.
Trong quá trình nuôi, cần theo dõi và ghi chép tình trạng sức khỏe của thủy sản, kịp thời nhận diện các dấu hiệu nghi mắc bệnh, triệu chứng và bệnh tích liên quan đến những bệnh thuộc diện giám sát;
Kế hoạch cũng cần quy định rõ cách thức báo cáo khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ thủy sản mắc bệnh truyền nhiễm. Khi có trường hợp nghi ngờ, cơ sở thực hiện báo cáo cho nhân viên thú y, chính quyền hoặc cơ quan chăn nuôi và thú y địa phương theo quy định. Đồng thời, chuẩn bị phương án lấy mẫu, xét nghiệm để xác định tác nhân gây bệnh và tổ chức điều tra dịch tễ, làm rõ nguyên nhân khi cần thiết;
Nội dung giám sát tập trung vào các tác nhân gây bệnh đã đăng ký công nhận an toàn; các dấu hiệu cho thấy thủy sản nuôi có thể đã nhiễm tác nhân gây bệnh; hoặc kết quả xét nghiệm xác định thủy sản nuôi đạt mức độ đáp ứng miễn dịch đối với các bệnh đăng ký công nhận an toàn;
Đối tượng giám sát gồm thủy sản giống, thủy sản nuôi và động vật hoang dã mẫn cảm với các bệnh đăng ký công nhận an toàn; vật chủ trung gian có khả năng mang tác nhân gây bệnh; thức ăn tươi sống (nếu có) và nguồn nước cấp cho khu vực sản xuất.
Địa điểm giám sát bao gồm khu vực sản xuất, nơi cách ly thủy sản, nơi bảo quản thức ăn, nguồn cung cấp nước và những khu vực có nguy cơ xuất hiện tác nhân gây bệnh.
Thời gian giám sát được tính từ thời điểm chủ cơ sở hoặc Ủy ban nhân dân thực hiện kế hoạch giám sát dịch bệnh. Thời gian giám sát phải bảo đảm tối thiểu 12 tháng, bao gồm cả thời gian nghỉ giữa các vụ nuôi trong năm, tính đến thời điểm nộp hồ sơ đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh.
Tại cơ sở đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh, việc lấy mẫu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên dựa trên xác suất thống kê. Mẫu được lấy tại 3 – 5 vị trí cách đều nhau, bảo đảm đại diện cho ao/bể. Phương thức giám sát nhằm phát hiện tác nhân gây bệnh; kết quả xét nghiệm phải bảo đảm 100% số mẫu âm tính với tác nhân gây bệnh đăng ký công nhận an toàn.
Cơ sở thực hiện lấy mẫu tối thiểu 2 lần trong 12 tháng, mỗi lần cách nhau ít nhất 3 tháng.
Phương pháp lấy mẫu, chủng loại mẫu, cách bảo quản và vận chuyển mẫu thực hiện theo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành hoặc hướng dẫn riêng đối với từng bệnh của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.
Trường hợp cơ sở có nhân viên kỹ thuật đã được Cơ quan cấp giấy tập huấn về lấy và bảo quản mẫu, cơ sở có thể chủ động thực hiện việc lấy mẫu theo kế hoạch, đồng thời thống nhất với Cơ quan cấp giấy để giám sát quá trình lấy mẫu. Nếu chưa có nhân viên kỹ thuật được tập huấn, cơ sở thống nhất với Cơ quan cấp giấy để tổ chức lấy mẫu.
Chủ động quản lý ao nuôi, góp phần phòng ngừa dịch bệnh thủy sản. Ảnh: Báo Hà Tĩnh
Các hoạt động lấy mẫu và giám sát quá trình lấy mẫu phải được lập biên bản, lưu cùng hồ sơ giám sát tại cơ sở hoặc tại vùng.
Với vùng đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh, việc lấy mẫu được tính toán dựa trên số cơ sở đang hoạt động và số ao/bể đang sản xuất tại thời điểm giám sát. Từ đó, các cơ sở và ao/bể được lựa chọn ngẫu nhiên theo phương pháp xác suất thống kê.
Số lượng cơ sở được chọn và số mẫu cần lấy tại mỗi cơ sở thực hiện theo quy định. Việc giám sát nhằm phát hiện tác nhân gây bệnh và kết quả xét nghiệm phải bảo đảm 100% số cơ sở âm tính với tác nhân gây bệnh đăng ký công nhận an toàn.
Nếu là vùng lần đầu đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh, việc lấy mẫu được thực hiện tối thiểu 2 lần trong 12 tháng, mỗi lần cách nhau ít nhất 3 tháng.
Trường hợp kết quả xét nghiệm mẫu giám sát dương tính với tác nhân gây bệnh đăng ký công nhận an toàn, Cơ quan cấp giấy hướng dẫn cơ sở, vùng thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định. Chủ cơ sở hoặc Ủy ban nhân dân theo phân công, phân cấp thực hiện điều chỉnh và triển khai lại kế hoạch an toàn sinh học, kế hoạch giám sát dịch bệnh theo thời gian quy định, tính từ thời điểm xử lý xong dịch bệnh.
Xây dựng và thường xuyên cập nhật kế hoạch:
Với cơ sở đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh, người nuôi cần xây dựng kế hoạch ứng phó phù hợp với điều kiện sản xuất, thường xuyên rà soát và điều chỉnh khi cần thiết. Nội dung kế hoạch phải tính đến cả nguy cơ dịch bệnh phát sinh trong cơ sở và những sự cố từ khu vực xung quanh có thể ảnh hưởng đến an toàn dịch bệnh.
Ở cấp vùng, kế hoạch được xây dựng và triển khai phù hợp với tình hình sản xuất thực tế, đồng thời thường xuyên rà soát, bổ sung các biện pháp ứng phó. Các thông tin, dữ liệu liên quan cần được lưu giữ đầy đủ theo quy định.
Nội dung kế hoạch ứng phó dịch bệnh:
Kế hoạch cần dự trù nhân lực, kinh phí và các vật tư cần thiết để xử lý dịch bệnh, gồm hóa chất, phương tiện, dụng cụ chuyên dùng và trang bị bảo hộ. Trách nhiệm của từng người tham gia xử lý cũng cần được phân công rõ ràng, cùng phương án xử lý thủy sản chết, mắc bệnh hoặc nghi mắc bệnh.
Khi phát sinh dịch bệnh, cơ sở hoặc vùng cần kịp thời báo cáo chính quyền địa phương và Cơ quan cấp giấy; phối hợp với cơ quan chuyên môn điều tra, chẩn đoán, lấy mẫu bệnh phẩm và mẫu môi trường để xác định tác nhân gây bệnh, đồng thời triển khai các biện pháp kiểm soát, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng nhằm hạn chế dịch lây lan.
Sau khi dịch bệnh được xử lý, việc nuôi, thả lại tại khu vực từng xảy ra dịch chỉ thực hiện khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và hướng dẫn của Cơ quan cấp giấy.
Để được công nhận an toàn dịch bệnh, cơ sở và vùng phải duy trì tình trạng không xảy ra các bệnh đã đăng ký trong thời gian theo quy định, đồng thời thực hiện giám sát để có cơ sở chứng minh tình trạng an toàn.
Trường hợp cơ sở mới bắt đầu nuôi trồng thủy sản và hoạt động chưa đủ 12 tháng, vẫn có thể được xem xét công nhận nếu từ khi bắt đầu hoạt động đến thời điểm nộp hồ sơ không phát sinh bệnh đăng ký công nhận an toàn.
Trong khi đó, với cơ sở đã hoạt động từ 12 tháng trở lên, trong ít nhất 12 tháng trước khi nộp hồ sơ, cơ sở không xảy ra bệnh đăng ký công nhận an toàn; địa bàn cấp xã nơi cơ sở hoạt động cũng không ghi nhận bệnh này. Kết quả lấy mẫu, xét nghiệm trong thời gian giám sát phải đáp ứng yêu cầu đối với bệnh đăng ký.
Đối với vùng đăng ký công nhận an toàn dịch bệnh, trong ít nhất 12 tháng trước khi nộp hồ sơ không được ghi nhận ca bệnh thuộc danh mục đăng ký công nhận an toàn.
Cơ sở, vùng cần duy trì đầy đủ hồ sơ về quá trình sản xuất và các hoạt động liên quan đến an toàn dịch bệnh, từ thực hành an toàn sinh học, giám sát và xử lý dịch bệnh đến vận chuyển thủy sản, phòng bệnh, sử dụng thức ăn, vệ sinh, khử trùng, quản lý người ra vào và đào tạo. Thông tin về dịch bệnh, kết quả xét nghiệm và các biện pháp xử lý cũng cần được cập nhật, lưu giữ đầy đủ.
Hệ thống truy xuất cần giúp cơ sở quản lý rõ từng ao, từng đợt nuôi, từ nguồn thủy sản đưa vào đến quá trình xuất bán, đồng thời xác định được nguồn gốc thức ăn, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm và các vật tư đã sử dụng. Hồ sơ, dữ liệu được lưu giữ trong thời hạn quy định để phục vụ truy xuất nguồn gốc, giám sát và đánh giá tình trạng an toàn dịch bệnh.
Khi đã đáp ứng các yêu cầu về an toàn dịch bệnh, cơ sở hoặc vùng có thể chuẩn bị hồ sơ đăng ký công nhận. Hồ sơ gồm đơn đăng ký và bản mô tả thông tin theo mẫu quy định. Với cơ sở nuôi trồng thủy sản, nội dung hồ sơ tập trung vào điều kiện của cơ sở, kết quả thực hiện kế hoạch an toàn sinh học, giám sát và ứng phó dịch bệnh, kèm các tài liệu, số liệu, kết quả xét nghiệm và biên bản liên quan.
Với vùng nuôi, hồ sơ cần phản ánh kết quả giám sát trên toàn vùng, như số cơ sở, ao/bể được lựa chọn, số mẫu và kết quả xét nghiệm; đồng thời cập nhật tình hình dịch bệnh, biện pháp ứng phó và kết quả xử lý nếu có phát sinh. Những cơ sở được lựa chọn ngẫu nhiên trong vùng cũng phải đáp ứng yêu cầu về an toàn dịch bệnh khi cơ quan chuyên môn tiến hành kiểm tra, đánh giá.
Sau khi hoàn thiện hồ sơ, cơ sở hoặc vùng sẽ được cơ quan chuyên môn có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá thực tế. Nội dung đánh giá tập trung vào điều kiện an toàn sinh học, kết quả giám sát dịch bệnh, khả năng ứng phó khi có dịch và việc quản lý hồ sơ, dữ liệu.
Với vùng, cơ quan chuyên môn còn kiểm tra thực tế tại các cơ sở được lựa chọn theo quy định để đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu an toàn dịch bệnh. Nếu đáp ứng đầy đủ, cơ sở hoặc vùng được cấp Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh động vật. Trường hợp còn nội dung chưa đạt, cơ sở hoặc vùng cần khắc phục theo yêu cầu để được xem xét lại.
Sau khi được công nhận, việc duy trì an toàn dịch bệnh vẫn phải được thực hiện thường xuyên thông qua giám sát định kỳ, duy trì các biện pháp an toàn sinh học, phòng chống dịch và cập nhật hồ sơ, dữ liệu. Đối với vùng, việc đánh giá được thực hiện mỗi năm một lần, dựa trên kết quả thực hiện kế hoạch, xét nghiệm và việc tuân thủ quy định kiểm dịch. Khi có nguy cơ dịch bệnh, yêu cầu từ nước nhập khẩu hoặc cơ quan quản lý cấp trên, việc đánh giá có thể được thực hiện đột xuất.
Giấy chứng nhận có hiệu lực 5 năm. Tuy nhiên, giấy có thể hết hiệu lực trước thời hạn nếu phát sinh bệnh, phát hiện tác nhân gây bệnh đã được công nhận an toàn, không duy trì đầy đủ các điều kiện hoặc không khắc phục sai lỗi theo yêu cầu. Đối với vùng, việc cung cấp hồ sơ, dữ liệu không chính xác cũng có thể làm giấy chứng nhận hết hiệu lực.
Kim Tiến
Tài liệu tham khảo:
Quốc hội (2015), Luật Thú y số 79/2015/QH13.
Quốc hội (2017), Luật Thủy sản số 18/2017/QH14.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Văn bản hợp nhất số 65/VBHN-BNNMT ngày 9/6/2026 quy định về cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh động vật.