(TSVN) – Trong quá trình nuôi cá tra, những biến động về môi trường nước, thời tiết và quản lý chưa phù hợp có thể làm gia tăng nguy cơ phát sinh bệnh gan thận mủ, xuất huyết và nhiều bệnh nguy hiểm khác. Nhận diện sớm yếu tố bất lợi và áp dụng đồng bộ các biện pháp phòng bệnh sẽ giúp hạn chế thiệt hại.
– Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri thuộc họ Enterobacteriaceae.
– Loài cảm nhiễm: Các loài cá da trơn, trong đó chủ yếu là cá tra (Pangasianodon hypophthalmus).
– Giai đoạn nhiễm bệnh: Cá nhiễm bệnh ở tất cả các giai đoạn nuôi nhưng mẫn cảm nhất là giai đoạn cá giống.
– Mùa vụ xuất hiện bệnh: Bệnh xuất hiện quanh năm trên cá da trơn và tập trung vào 3 tháng đầu mới thả nuôi; bệnh xuất hiện cao điểm là vào mùa mưa lũ nhất là tháng 7, tháng 8 hằng năm.
Cá tra mắc bệnh gan thận mủ. Ảnh: uv-vietnam
– Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh xảy ra ở hầu hết các vùng ương giống và nuôi cá da trơn thâm canh.
– Phương thức truyền lây: Bệnh lây từ nguồn nước có nhiễm E. ictaluri, từ cá mắc bệnh hoặc cá nhiễm bệnh sang cá khỏe trong cùng một ao, di chuyển từ ao nuôi này sang ao nuôi khác hoặc từ vùng nuôi này sang vùng nuôi khác. Mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể gây nhiễm bệnh cho cá khỏe qua dụng cụ chăm sóc có mang mầm bệnh (như thau, vợt, lưới…).
– Dấu hiệu bệnh lý:
Thể cấp tính: Cá chết nhanh sau vài ngày, không rõ dấu hiệu bệnh lý bên ngoài.
Thể mãn tính: Cá chết rải rác trong vài tuần hoặc kéo dài hơn.
Triệu chứng: Ở giai đoạn đầu, triệu chứng của bệnh chưa rõ ràng. Cá bơi lờ đờ, giảm ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, ít phản ứng với những tác động xung quanh. Giai đoạn tiếp theo, cá bệnh có hiện tượng da nhợt nhạt; mặc dù bên ngoài không có những biểu hiện bệnh rõ ràng nhưng bên trong nội tạng xuất hiện nhiều đốm trắng (ổ mủ) trên gan, thận và lách.
– Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu bệnh phẩm được xét nghiệm tại các Phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
Bệnh xuất huyết hay còn gọi là bệnh đốm đỏ, bệnh nhiễm trùng máu do vi khuẩn Aeromonas hydrophila ở cá.
– Tác nhân gây bệnh: Do vi khuẩn Aeromonas hydrophila thuộc họ Aeromonadaceae gây ra.
– Loài cảm nhiễm: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), cá basa (Pangasius bocourti) và một số loài cá nước ngọt.
– Mùa vụ xuất hiện bệnh: Ở Việt Nam, bệnh xuất huyết do A. hydrophila có thể xảy ra quanh năm, thường tập trung vào đầu mùa khô và dễ bùng phát khi cá bị stress, đặc biệt sau những đợt mưa (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, 2026).
– Vùng xuất hiện bệnh: Ở nước ta bệnh xuất hiện ở hầu hết các loài cá nuôi lồng, bè và ao hồ nước ngọt.
– Phương thức truyền lây: Bệnh lây từ cá mắc bệnh hoặc cá nhiễm bệnh sang cá khỏe trong cùng một ao nuôi. Mầm bệnh tồn tại trong môi trường có thể gây bệnh trực tiếp cho cá khỏe qua dụng cụ chăm sóc nhiễm bệnh (như thau, vợt, lưới…). Mầm bệnh có thể tồn tại và phát triển trong môi trường nước ao nuôi và di chuyển từ ao này sang ao khác, từ vùng nuôi này sang vùng nuôi khác. Aeromonas hydrophila là vi khuẩn cơ hội, thường gây bùng phát bệnh khi cá bị stress và điều kiện môi trường ao nuôi suy giảm như ô nhiễm hữu cơ, thiếu ôxy hòa tan, biến động nhiệt độ, pH hoặc sau các đợt mưa lớn.
– Dấu hiệu bệnh lý:
Triệu chứng: Giai đoạn đầu sau khi nhiễm bệnh cá kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên tầng mặt. Da cá thường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt. Ở giai đoạn tiếp theo, xuất hiện hiện tượng lồi mắt, phù đầu, đốm đỏ trên thân, xuất huyết vây, quanh miệng, mắt và hậu môn. Xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ. Trên vết loét thường có nấm và ký sinh trùng ký sinh. Mắt lồi đục, quanh hốc mắt bị sưng tấy, mất nhớt; hậu môn viêm xuất huyết; bụng trướng to, các vây xơ rách.
Bệnh tích: Ruột có thể chứa đầy hơi, gan thận thường bị hoại tử. Xoang bụng xuất huyết, gan tái nhợt, mật sưng to, thận sưng, xuất huyết.
Trường hợp cấp tính, khi mổ cá thấy nhiều dịch đỏ lẫn máu ở xoang bụng, xuất huyết nội tạng, cá chết nhiều trong thời gian ngắn.
– Chẩn đoán xét nghiệm: Mẫu bệnh phẩm được xét nghiệm tại các Phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư khuyến cáo, các cơ sở nuôi cá thương phẩm cần áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp, quản lý ao nuôi theo quy định của pháp luật về thú y và khuyến cáo của các cơ quan chuyên ngành thú y, thủy sản, trong đó lưu ý một số nội dung sau:
– Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng và được kiểm dịch theo quy định. Mật độ thả nuôi theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản, đảm bảo mật độ thích hợp cho cá phát triển tốt.
– Sử dụng lượng thức ăn vừa đủ, tránh dư thừa giúp giảm lượng chất thải trong ao nuôi, góp phần giảm ô nhiễm môi trường nước, hạn chế sự phát triển và truyền lây của vi khuẩn gây bệnh.
– Theo dõi sức khỏe cá hằng ngày (màu sắc, khả năng hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ; kiểm tra màu nước, các chỉ tiêu môi trường, sự xuất hiện của các yếu tố địch hại) để phát hiện sớm, điều chỉnh và xử lý kịp thời, đặc biệt cá ở giai đoạn dưới 5 tháng tuổi và giai đoạn chuyển mùa (Cục Thủy sản và Kiểm ngư, 2026); có thể lấy mẫu định kỳ cá ở giai đoạn này để kiểm tra vi khuẩn trên gan, thận và lá lách.
– Tăng cường chăm sóc, sử dụng thức ăn bảo đảm dinh dưỡng, bổ sung vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chế phẩm sinh học… giúp nâng cao sức đề kháng cho cá.
– Chủ cơ sở nuôi cần theo dõi nắm thông tin về tình hình dịch bệnh xảy ra trong khu vực/vùng, tình hình dự báo thời tiết và cảnh báo dịch bệnh của cơ quan chuyên môn để có biện pháp chủ động phòng tránh dịch bệnh.
– Chủ cơ sở nuôi cần chú trọng quản lý và hạn chế các yếu tố gây stress cho cá như thay nước đột ngột, biến động nhiệt độ, pH, hàm lượng ôxy hòa tan; điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp trong điều kiện thời tiết bất lợi, nhằm giảm nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh.
– Quản lý tốt môi trường nước trong ao nuôi, thực hiện khử trùng định kỳ ao nuôi bằng các loại hóa chất dễ phân hủy, thời gian tồn lưu ngắn; có thể sử dụng các chế phẩm sinh học được phép lưu hành để cải tạo môi trường ao nuôi.
– Bố trí ao trữ nước và xử lý khử trùng nước trước khi cấp cho ao nuôi; khử trùng nguồn nước trước khi thải ra ngoài môi trường.
– Sử dụng các dụng cụ riêng cho từng ao nuôi và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
– Tăng cường các biện pháp an toàn sinh học khác trong quá trình nuôi như quản lý người, động vật, phương tiện… ra vào khu vực ao nuôi. Thực hiện vệ sinh, khử trùng khi ra, vào cơ sở. Có biện pháp ngăn chặn các vật chủ trung gian (các loài chim ăn cá) có thể mang tác nhân gây bệnh vào khu vực nuôi.
– Cá bệnh, cá chết và chất thải của ao bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng biện pháp phù hợp theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; không vứt cá bệnh, cá chết hoặc chất thải ra môi trường.
– Trường hợp ao xảy ra bệnh ở vụ trước, cơ sở nuôi phải xử lý nước đảm bảo không còn mầm bệnh trước khi xả thải.
– Chỉ sử dụng thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng và mục đích sử dụng; đối với sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm khác, sử dụng sản phẩm đáp ứng quy định pháp luật hiện hành. Tuân thủ hướng dẫn sử dụng và thời gian ngừng sử dụng trước khi thu hoạch đối với sản phẩm có quy định.
Giám sát chủ động: Chủ cơ sở nuôi chủ động lấy mẫu xét nghiệm định kỳ hoặc khi có nguy cơ, căn cứ tình hình dịch tễ, giai đoạn nuôi, diễn biến sức khỏe cá và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.
Giám sát bị động: Khi phát hiện cá bị bệnh, chết bất thường chủ cơ sở phải thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền/cơ quan chuyên môn theo quy định và thực hiện hướng dẫn về kiểm tra, lấy mẫu, xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh. Căn cứ vào dấu hiệu bệnh lý, nguy cơ để chỉ định các bệnh cần xét nghiệm để xác định chính xác tác nhân gây bệnh.
Sử dụng con giống khỏe mạnh, nguồn gốc rõ ràng. Ảnh: LHV
Xử lý kết quả dương tính:
– Chủ cơ sở nuôi cần khai báo/thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền và phối hợp thực hiện các biện pháp cảnh báo, phòng, chống bệnh theo hướng dẫn, hạn chế lây lan trong vùng nuôi.
– Cá chết, cá có biểu hiện sắp chết phải được vớt ra ngay khỏi ao nuôi và tiến hành xử lý hoặc tiêu hủy theo các quy định hiện hành. Không được vứt cá mắc bệnh, cá chết ra khu vực xung quanh gây ô nhiễm môi trường và làm lây lan dịch bệnh.
– Trường hợp xem xét thu hoạch cá tại ao có bệnh, việc thu hoạch, xử lý và vận chuyển phải thực hiện theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, đồng thời bảo đảm yêu cầu về thú y, an toàn thực phẩm và thời gian ngừng sử dụng thuốc (nếu có).
– Trường hợp cá chưa đạt kích cỡ thương phẩm:
+ Nếu mẫu cá cho kết quả xét nghiệm dương tính với mầm bệnh nhưng cá không có biểu hiện bệnh lý và vẫn hoạt động bình thường thì tăng cường các biện pháp chăm sóc, bổ sung các loại vitamin, khoáng chất và quản lý tốt chất lượng nước;
+ Trường hợp mẫu cá có biểu hiện bệnh lý, cho kết quả xét nghiệm dương tính với mầm bệnh, chủ cơ sở phối hợp với cơ quan/cán bộ chuyên môn để lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp như điều trị, thu hoạch hoặc tiêu hủy trên cơ sở tình trạng bệnh, kết quả xét nghiệm, yêu cầu an toàn thực phẩm và quy định hiện hành;
+ Trường hợp lựa chọn phương án điều trị nên lấy mẫu xác định tác nhân và thực hiện kháng sinh đồ khi phù hợp; việc lựa chọn kháng sinh cần căn cứ kết quả chẩn đoán, kháng sinh đồ (khi có) và hướng dẫn chuyên môn. Chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự cần thiết và khi cá còn khả năng hồi phục, không điều trị kháng sinh đại trà trên diện rộng. Kháng sinh lựa chọn phải là thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng và mục đích sử dụng. Cách sử dụng kháng sinh phải tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất và hướng dẫn chuyên môn phù hợp;
+ Trường hợp cá chết bất thường, chết tăng nhanh hoặc bệnh diễn biến cấp tính, cơ sở cần báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền/cơ quan chuyên môn để được hướng dẫn xử lý kịp thời; không tự ý sử dụng thuốc, hóa chất hoặc xả nước từ ao bệnh ra môi trường khi chưa thực hiện biện pháp xử lý theo hướng dẫn.
– Việc vận chuyển cá từ ao bị bệnh phải thực hiện theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm không làm lây lan dịch bệnh. Cá được vận chuyển đến cơ sở chế biến trong các dụng cụ chuyên dụng, đảm bảo an toàn vệ sinh thú y. Dụng cụ sau khi vận chuyển cá phải được vệ sinh khử trùng theo quy định của pháp luật.
– Nước và bùn đáy ao được xử lý (khử trùng) đảm bảo không còn mầm bệnh. Bờ ao, công cụ, dụng cụ, phương tiện chứa đựng cá bệnh phải được vệ sinh, khử trùng, tiêu độc.
– Đối với các ao không bị bệnh, cần theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu môi trường, sức khỏe cá; tăng cường chế độ chăm sóc quản lý nâng cao sức đề kháng cho cá; thực hiện các biện pháp phòng bệnh, hạn chế người qua lại giữa các ao.
– Trong quá trình thực hiện kế hoạch giám sát sức khỏe cá nuôi, chủ cơ sở tự đánh giá và điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với yêu cầu thực tế và đáp ứng yêu cầu về giám sát dịch bệnh.
Kim Tiến
Tài liệu tham khảo:
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026), Phụ lục 01. Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên cá da trơn, kèm theo Quyết định số 108/QĐ-TSKN ngày 17 tháng 3 năm 2026.