Nhận biết và phòng bệnh TPD trên tôm

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – TPD là bệnh nguy hiểm thường xuất hiện sớm ở tôm giống và gây hao hụt lớn chỉ sau vài ngày. Tỷ lệ chết có thể đạt khoảng 60% vào ngày thứ hai, tăng lên 90 – 100% trong vòng 24 – 72 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng. Chủ động kiểm soát nguồn giống, theo dõi sức khỏe tôm và duy trì điều kiện ương nuôi ổn định giúp hạn chế thiệt hại.

Nguyên nhân

Bệnh Đục thủy tinh

(Translucent Post Larvae Disease – TPD), còn gọi là bệnh hậu ấu trùng mờ đục hoặc bệnh hậu ấu trùng thủy tinh (GPD), do một chủng Vibrio parahaemolyticus có độc lực cao, được gọi là VpTPD, gây ra.

Chủng vi khuẩn này tạo ra một hệ thống độc tố phức hợp (Toxin complex), có khả năng gây tổn thương và phá hủy các tế bào ở hệ tiêu hóa của tôm giống. Trong hệ thống này, VHVP-2 (Vibrio High Virulent Protein) được xác định là một nhân tố độc lực chính.

Kiểm tra chất lượng tôm giống tại cơ sở sản xuất. Ảnh: Green Tech

Một số đặc điểm dịch tễ

– Loài cảm nhiễm: Bệnh xảy ra chủ yếu trên tôm thẻ chân trắng.

– Giai đoạn nhiễm bệnh: TPD đặc biệt đáng lưu ý ở giai đoạn hậu ấu trùng. Tôm mẫn cảm cao nhất ở giai đoạn PL4 – PL7, kéo dài đến giai đoạn tôm mới thả nuôi (PL15); giảm dần từ PL30 trở lên.

– Đặc điểm bùng phát: Dịch diễn biến rất nhanh, tỷ lệ chết có thể đạt 60% vào ngày thứ hai và lên đến 90 – 100% chỉ trong vòng 24 – 72 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng.

– Phương thức truyền lây: Bệnh lây truyền ngang qua nguồn nước cấp nhiễm khuẩn trong bể ương, qua thức ăn tươi sống hoặc lây chéo cơ học do dùng chung dụng cụ trong trại giống.

Dấu hiệu bệnh lý

– Triệu chứng: Dấu hiệu đầu tiên thường liên quan đến sức ăn và hoạt động của tôm. Tôm giảm ăn đột ngột, bơi yếu, phản ứng chậm, sau đó giảm dần sức sống và có thể tập trung ở đáy. Khi bệnh tiến triển, tỷ lệ tôm yếu, chết tăng nhanh.

– Bệnh tích đặc trưng: Khối gan tụy teo tóp, nhợt nhạt và chuyển sang mất màu hoàn toàn. Dạ dày và đường ruột hoàn toàn trống rỗng. Đặc điểm nhận diện quan trọng nhất là toàn bộ cơ thể tôm mất sắc tố, chuyển sang màu trắng đục và trong suốt như thủy tinh do sự thoái hóa nhanh chóng của mô cơ.

– Bệnh tích vi thể: Hoại tử cấp tính và bong tróc ồ ạt biểu mô ống gan tụy và ruột giữa; vi khuẩn xâm nhập sâu vào các mô lót niêm mạc.

Chẩn đoán xét nghiệm

Do dấu hiệu bệnh dễ nhầm với hoại tử gan tụy cấp (AHPND) và bệnh vi bào tử trùng (EHP), việc xác định TPD cần dựa vào xét nghiệm sinh học phân tử. Trong đó, kỹ thuật Multiplex PCR được sử dụng để tìm các đoạn gen mã hóa độc tố vhvp1 và vhvp-2.

Với tôm giống có dấu hiệu nghi mắc bệnh, mẫu cần được cố định sớm bằng ethanol 90 – 95% để bảo vệ DNA trong quá trình bảo quản và vận chuyển. Sau đó, mẫu được gửi đến phòng thử nghiệm đáp ứng yêu cầu theo quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.

Phòng bệnh

Bệnh TPD diễn biến rất phức tạp, tốc độ lây lan nhanh, chưa có phương pháp điều trị hiệu quả. Do đó, phòng bệnh và áp dụng an toàn sinh học là giải pháp tối ưu nhất hiện nay.

Tại cơ sở nuôi tôm bố mẹ:

– Nguồn nước: Nước cấp vào hệ thống phải qua lưới lọc để loại bỏ vật chủ trung gian, sau đó được khử trùng bằng Chlorine, Iodine, tia UV hoặc lọc tinh để diệt trừ mầm bệnh trước khi đưa vào hệ thống sản xuất. Nước được xử lý đảm bảo chất lượng theo quy định.

– Nguồn gốc, chất lượng tôm bố mẹ: Chỉ sử dụng tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF), có nguồn gốc rõ ràng. Việc quản lý, sử dụng tôm bố mẹ phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 09/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản và các quy định pháp luật có liên quan.

– Thức ăn: Sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến bảo đảm chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng quy cách, không bị nhiễm nấm mốc, nhiễm khuẩn. Đối với thức ăn tươi sống (như giun nhiều tơ, mực, hàu…), phải được xử lý phù hợp và kiểm soát mầm bệnh (ưu tiên kiểm tra bằng phương pháp PCR khi cần thiết), bảo đảm không mang mầm bệnh trước khi cho tôm ăn.

– Sử dụng thuốc, hóa chất, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đối với cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống:

Kiểm soát chặt nguồn nước: Nguồn nước cấp vào cần được khử trùng triệt để. Có thể kết hợp lọc cơ học với các biện pháp khử trùng phù hợp như Chlorine, ozone hoặc tia UV tùy điều kiện hệ thống. Sau xử lý, kiểm tra chất lượng nước và bảo đảm các thông số phù hợp trước khi đưa vào bể. Việc kiểm soát nguồn nước ngay từ đầu giúp giảm nguy cơ đưa Vibrio và các tác nhân gây bệnh vào hệ thống.

Vệ sinh, khử trùng bể và dụng cụ: Bể sản xuất, bể ương, đường ống, vợt, xô và các dụng cụ tiếp xúc với tôm hoặc nước nuôi cần được vệ sinh, khử trùng trước và sau mỗi đợt sản xuất. Nên bố trí dụng cụ riêng cho từng khu vực hoặc nhóm bể, hạn chế sử dụng chung giữa các bể có tình trạng sức khỏe khác nhau. Quy trình làm sạch cần loại bỏ hết chất hữu cơ trước khi khử trùng để nâng hiệu quả xử lý và hạn chế lây nhiễm chéo giữa các bể.

Quản lý trứng và ấu trùng: Trứng, Nauplius được xử lý theo quy trình kỹ thuật phù hợp nhằm giảm lượng vi khuẩn bám trên bề mặt. Có thể sử dụng dung dịch Formol (100 – 200 ppm) hoặc Iodine (1 – 2 ppm). Sau xử lý, cần theo dõi sức khỏe ấu trùng và chất lượng nước trước khi chuyển sang công đoạn tiếp theo.

Ổn định sức khỏe tôm giống: Duy trì chế độ dinh dưỡng phù hợp, bảo đảm tôm giống được cung cấp đầy đủ vitamin, khoáng chất và các dưỡng chất cần thiết theo từng giai đoạn phát triển. Đồng thời, hạn chế các yếu tố gây stress như biến động đột ngột về môi trường, mật độ quá cao hoặc thao tác chăm sóc không phù hợp, nhất là ở giai đoạn PL nhỏ.

Theo dõi môi trường thường xuyên: Các chỉ tiêu như ôxy hòa tan (DO), pH, độ kiềm, nhiệt độ và khí độc cần được kiểm tra theo tần suất phù hợp với hệ thống. Khi thông số môi trường biến động, cần xác định nguyên nhân và điều chỉnh sớm, tránh để tôm chịu stress kéo dài. Cùng với đó, phải theo dõi lượng thức ăn, hoạt động bơi, màu sắc cơ thể, đường ruột và tỷ lệ chết để phát hiện bất thường ngay từ giai đoạn đầu.

Chủ động giám sát và xét nghiệm: Thực hiện xét nghiệm định kỳ đối với các đàn tôm giống trong quá trình sản xuất, đặc biệt ở những giai đoạn có nguy cơ cao. Kết quả xét nghiệm giúp cơ sở chủ động đánh giá tình trạng đàn giống, kiểm soát nguy cơ phát tán mầm bệnh và có cơ sở lựa chọn đàn giống trước khi xuất bán hoặc chuyển sang cơ sở khác.

Quản lý chất thải: Tôm chết, xác ấu trùng, thức ăn thừa và các chất thải phát sinh từ bể bệnh phải được thu gom riêng, không để phát tán sang khu vực sản xuất khác. Nước thải và chất thải cần được xử lý bằng biện pháp phù hợp trước khi thải ra môi trường.

Đối với cơ sở nuôi tôm thương phẩm:

Lựa chọn con giống: Ưu tiên sử dụng tôm giống khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, từ cơ sở sản xuất, ương dưỡng đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch và an toàn dịch bệnh. Hồ sơ về nguồn gốc, tình trạng sức khỏe và kết quả xét nghiệm của đàn giống cần được lưu giữ để phục vụ theo dõi và truy xuất khi cần thiết.

Quản lý nguồn nước: Bố trí ao lắng, ao xử lý nước riêng biệt trước khi cấp vào khu vực nuôi. Nước cần được lọc và xử lý phù hợp nhằm giảm nguy cơ đưa mầm bệnh vào ao. Hệ thống cấp, thoát nước nên được thiết kế tách biệt; thường xuyên thu gom chất thải, hạn chế tích tụ vật chất hữu cơ và mầm bệnh ở đáy ao. Với ao nuôi có hệ thống xi phông đáy, cần vận hành phù hợp để loại bỏ chất thải mà không làm xáo trộn môi trường quá mức.

Tăng cường an toàn sinh học: Lắp đặt lưới chắn chim và các biện pháp phù hợp để hạn chế cua, còng cùng các vật chủ trung gian xâm nhập khu vực nuôi. Dụng cụ sử dụng cho từng ao nên được bố trí riêng và vệ sinh, khử trùng sau khi sử dụng. Kiểm soát người và phương tiện ra vào, đồng thời thực hiện các biện pháp vệ sinh, khử trùng cần thiết nhằm hạn chế nguy cơ đưa mầm bệnh từ bên ngoài vào khu vực nuôi hoặc phát tán giữa các ao.

Quản lý môi trường và dinh dưỡng: Duy trì các yếu tố môi trường trong khoảng thích hợp, hạn chế biến động đột ngột về nhiệt độ, pH, độ mặn, ôxy hòa tan và các chỉ tiêu liên quan. Quản lý lượng thức ăn phù hợp, tránh dư thừa làm gia tăng chất hữu cơ và ảnh hưởng đến chất lượng nước. Sử dụng thức ăn có chất lượng, kết hợp các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng hoặc chế phẩm sinh học phù hợp theo điều kiện thực tế của ao nuôi.

Giám sát sức khỏe và xét nghiệm: Theo dõi tình trạng tôm, lượng ăn và các chỉ tiêu môi trường hằng ngày để phát hiện sớm những thay đổi bất thường. Chủ động thực hiện xét nghiệm định kỳ theo chương trình giám sát của cơ sở, ưu tiên các thời điểm có nguy cơ cao hoặc trước khi chuyển tôm giữa các cơ sở. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường hoặc tỷ lệ chết tăng, cần lấy mẫu xác định tác nhân và thực hiện các biện pháp xử lý, thông báo theo quy định hiện hành.

Quản lý chất thải: Xác tôm chết, bùn đáy và các loại chất thải phát sinh trong quá trình nuôi cần được thu gom riêng, xử lý phù hợp trước khi đưa ra khỏi khu vực sản xuất. Nước thải từ ao nuôi, đặc biệt khi nghi ngờ hoặc xác định có dịch bệnh, phải được xử lý theo yêu cầu trước khi xả ra môi trường, tránh phát tán mầm bệnh sang các ao hoặc khu vực nuôi khác.

Biện pháp xử lý

Tại cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống: Khi phát hiện tôm giống có dấu hiệu nghi nhiễm TPD, cơ sở cần nhanh chóng khoanh vùng bể nghi bệnh, hạn chế tối đa việc di chuyển tôm, dụng cụ và nhân sự giữa các khu vực. Đồng thời, lấy mẫu tôm có biểu hiện bất thường gửi đến phòng thử nghiệm để xác định tác nhân bằng phương pháp PCR phù hợp. Trong thời gian chờ kết quả, cần tăng cường theo dõi tình trạng sức khỏe của đàn tôm và kiểm soát chặt chẽ các bể có liên quan về nguồn nước, dụng cụ hoặc quá trình chăm sóc.

Khi xác định đàn tôm nhiễm TPD, cần cách ly khu vực có bệnh, ngừng chuyển tôm sang các bể hoặc cơ sở khác nhằm hạn chế phát tán mầm bệnh. Đối với đàn tôm có tỷ lệ chết tăng nhanh, cần phối hợp với cơ quan chuyên môn có thẩm quyền để đánh giá tình trạng và quyết định biện pháp xử lý phù hợp. Tôm chết, xác ấu trùng và chất thải trong bể bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng các biện pháp phù hợp theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; không đổ trực tiếp ra môi trường hoặc đưa vào hệ thống sản xuất khác.

Nước trong bể nhiễm bệnh và nước thải liên quan cần được xử lý trước khi xả thải, không tái sử dụng cho các bể khác khi chưa bảo đảm an toàn. Sau khi loại bỏ đàn bệnh, tiến hành vệ sinh, khử trùng bể, đường ống, thiết bị và dụng cụ tiếp xúc với tôm hoặc nước nuôi. Cần làm sạch chất hữu cơ trước khi khử trùng, đồng thời kiểm tra và xử lý các khu vực có nguy cơ lây nhiễm chéo.
Đối với các bể chưa phát hiện bệnh, cần tiếp tục giám sát sức khỏe tôm, kiểm soát nguồn nước và hạn chế sử dụng chung dụng cụ với khu vực có bệnh. Trước khi đưa cơ sở hoặc khu vực bị ảnh hưởng trở lại sản xuất, cần hoàn tất vệ sinh, khử trùng và kiểm tra các điều kiện an toàn sinh học. Việc tái sản xuất cần thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, kết hợp kiểm soát chặt nguồn giống và các yếu tố đầu vào.

Tại cơ sở nuôi thương phẩm: Khi nghi ngờ tôm nhiễm TPD, cần kết hợp theo dõi các dấu hiệu lâm sàng với xét nghiệm để khẳng định sự hiện diện của tác nhân gây bệnh. Khi có kết quả xét nghiệm dương tính, chủ cơ sở thông tin cho các hộ nuôi lân cận và cơ quan chuyên môn có thẩm quyền theo quy định để phối hợp triển khai biện pháp phòng, chống bệnh, hạn chế nguy cơ lây lan.

Tôm bệnh, tôm chết và chất thải của ao bị bệnh phải được thu gom và xử lý kịp thời bằng biện pháp phù hợp theo quy định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Không tự ý xả nước, xác tôm bệnh, tôm chết hoặc chất thải từ ao bệnh ra môi trường.

Đối với các ao chưa xuất hiện bệnh cùng trong khu vực nuôi, cần tăng cường theo dõi sức khỏe tôm và chất lượng nước; hạn chế người, phương tiện và dụng cụ di chuyển giữa các ao, đồng thời thực hiện nghiêm các biện pháp an toàn sinh học để giảm nguy cơ lây nhiễm chéo.

Nguyễn Hằng

Tài liệu tham khảo
Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên tôm nước lợ, ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TSKN ngày 20/3/2026.

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài