Tiềm năng axit triterpenic từ hương thảo

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Axit triterpenic từ hương thảo cho thấy tiềm năng hỗ trợ tăng trưởng và nâng cao khả năng chống chịu của tôm trước điều kiện thiếu ôxy, mở ra hướng bổ sung hợp chất có nguồn gốc thực vật vào thức ăn.

Thiếu ôxy là một trong những dạng stress môi trường phổ biến trong nuôi tôm thẻ chân trắng, đặc biệt ở các hệ thống thâm canh mật độ cao, khi chất lượng nước suy giảm hoặc trong quá trình vận chuyển. Thiếu ôxy làm rối loạn cân bằng ôxy hóa – khử, gây stress ôxy hóa và tổn thương tế bào, trực tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng, làm suy giảm đáng kể chức năng miễn dịch bẩm sinh.
Trong bối cảnh đó, Rui Feng, Xiaomin Li và cộng sự tại Đại học Trung Sơn, Trung Quốc đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sử dụng các axit triterpenic có nguồn gốc từ hương thảo (Rosmarinus officinalis) như một phụ gia thức ăn giúp tôm thích nghi tốt hơn với stress thiếu ôxy.

Hương thảo chứa các axit triterpenic có tiềm năng hỗ trợ tôm chống stress. Ảnh: ST

Thử nghiệm với nhiều mức bổ sung

Nguyên liệu sử dụng chứa 41,15% axit triterpenic, trong đó ba thành phần chính là ursolic axit, oleanolic axit và betulinic axit. Nghiên cứu sử dụng 540 tôm giống có khối lượng ban đầu khoảng 0,69 g/con, bố trí sáu khẩu phần bổ sung lần lượt 0; 0,015; 0,03; 0,045; 0,06 và 0,075% axit triterpenic trong 56 ngày. Sau giai đoạn nuôi, tôm tiếp tục được thử thách thiếu ôxy cấp tính trong 24 giờ để đánh giá khả năng chống chịu. Bài báo được công bố trực tuyến ngày 29/7/2026 trên Aquaculture, tập 626, mã bài 744425.

Kết quả cho thấy mức bổ sung 0,045% mang lại hiệu quả tăng trưởng tổng thể tốt nhất. Tôm ở nghiệm thức này có khối lượng cuối, tăng trọng, tốc độ tăng trưởng đặc biệt và lượng thức ăn tiêu thụ cao hơn đối chứng, đồng thời hệ số chuyển đổi thức ăn thấp hơn. Phân tích hồi quy dựa trên tăng trọng xác định mức bổ sung tối ưu khoảng 0,0416%.

Hình 1. Ảnh hưởng của axit triterpenic từ hương thảo đến biểu hiện các gene chống ôxy hóa, miễn dịch và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng sau stress thiếu ôxy. Các nhóm bổ sung duy trì tỷ lệ sống cao hơn rõ rệt so với đối chứng sau 24 giờ thiếu ôxy. Nguồn: Feng và cộng sự (2026).

Cải thiện cấu trúc gan tụy và đường ruột

Lợi ích này đi kèm với sự cải thiện rõ về cấu trúc gan tụy và đường ruột. Ở mức 0,015 – 0,06%, các ống gan tụy có cấu trúc hoàn chỉnh hơn, số lượng tế bào B, R và E tăng, trong đó nhóm 0,03 – 0,045% thể hiện hình thái gan tụy tốt nhất. Đường ruột cũng phát triển tốt hơn, với nhung mao dài và dày hơn; riêng ở mức 0,045%, độ dày thành ruột đạt khoảng 322 µm so với khoảng 160 µm ở đối chứng.

Sau thiếu ôxy, gan tụy của nhóm đối chứng bị tổn thương rõ, trong khi gan tụy của các nhóm 0,03 – 0,045% vẫn duy trì cấu trúc mô tương đối nguyên vẹn.

Tuy nhiên, khi tăng liều lên 0,075%, lợi ích không tiếp tục tăng, đồng thời xuất hiện một số dấu hiệu bất lợi ở mô gan tụy và đường ruột.

Bên cạnh tác động lên mô gan tụy và đường ruột, axit triterpenic còn hỗ trợ chức năng tiêu hóa. Kết quả đánh giá hoạt tính enzyme tiêu hóa trước và sau thiếu ôxy cho thấy các nhóm bổ sung có

khả năng duy trì hoặc phục hồi hoạt động tiêu hóa tốt hơn, đồng thời giảm tổn thương gan tụy do stress thiếu ôxy.

Tăng khả năng chống chịu thiếu ôxy

Khả năng chống chịu thiếu ôxy của tôm được cải thiện, đi kèm với sự gia tăng biểu hiện các gene chống ôxy hóa, hoạt tính enzyme chống ôxy hóa và các gene liên quan đến miễn dịch.

Trước và sau stress, các mức axit triterpenic thích hợp làm tăng hoạt tính SOD, GSH-Px và tổng khả năng chống ôxy hóa, đồng thời giảm MDA – chỉ thị phản ánh mức độ peroxy hóa lipid. Nhóm 0,045% thể hiện phản ứng ổn định nhất, với sự tăng biểu hiện của các gene chống ôxy hóa như nrf2, cat và gpx, đồng thời làm tăng biểu hiện các gene nrf2, cat, gpx, myd88, dorsal, relish, hsp70 và hif-1α.

Sau thiếu ôxy, hif-1α, gene quan trọng trong đáp ứng với tình trạng thiếu ôxy, cũng tăng biểu hiện ở nhóm 0,045%. Những thay đổi sinh lý này được phản ánh trực tiếp ở tỷ lệ sống: sau 24 giờ thiếu ôxy, nhóm đối chứng chỉ còn khoảng 40% tôm sống, trong khi hầu hết các nhóm bổ sung axit triterpenic duy trì tỷ lệ sống quanh 90% hoặc cao hơn. Các chỉ số sinh hóa cũng cho thấy mức độ stress thấp hơn; chẳng hạn AST ở nhóm đối chứng đạt khoảng 30,9 U/L sau thiếu ôxy, trong khi nhóm 0,03 và 0,045% chỉ khoảng 5,6 – 6,3 U/L. Glucose huyết tương cũng giảm từ 1,73 mmol/L ở đối chứng xuống khoảng 1,20 – 1,27 mmol/L ở hai nhóm này. Các chỉ số này gợi ý mức độ stress và tổn thương gan tụy ở các nhóm bổ sung thấp hơn so với đối chứng.

Hình 2. Cấu trúc gan tụy, đường ruột và cơ của tôm thẻ chân trắng sử dụng các mức axit triterpenic khác nhau. Các mức bổ sung trung bình, đặc biệt 0,03 – 0,045%, giúp duy trì cấu trúc gan tụy tốt hơn sau thiếu ôxy, trong khi mức 0,075% không tạo thêm lợi ích và xuất hiện tổn thương ở gan tụy và đường ruột. Nguồn: Feng và cộng sự (2026).

Công cụ hỗ trợ

Nhìn chung, axit triterpenic từ hương thảo cho thấy tiềm năng như một phụ gia chức năng giúp tôm tăng trưởng tốt hơn đồng thời tăng khả năng chống chịu khi hàm lượng ôxy giảm. Khoảng bổ sung 0,015 – 0,06% đều tạo ra những tác động tích cực, nhưng mức 0,045% cho hiệu quả toàn diện nhất và mức tối ưu theo tăng trọng được ước tính là 0,0416%. Điểm đáng lưu ý là hiệu quả mang tính phụ thuộc liều: 0,075% không tạo thêm lợi ích và còn làm tăng ALT sau thiếu ôxy, đồng thời xuất hiện dấu hiệu tổn thương ở gan tụy và đường ruột.

Kết quả cho thấy axit triterpenic có tiềm năng trở thành phụ gia thức ăn hỗ trợ tăng trưởng, chức năng chống ôxy hóa, miễn dịch, tiêu hóa và khả năng chống chịu thiếu ôxy ở tôm. Tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện trong điều kiện thí nghiệm và cần tiếp tục đánh giá ở điều kiện sản xuất thực tế.

ThS Lê Xuân Chinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài