(TSVN) – Chi phí thức ăn chiếm khoảng 60% – 85% tổng chi phí sản xuất của các trại nuôi cá tra khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Vì vậy, nếu cải thiện được hệ số chuyển đổi thức ăn, lợi nhuận của ngành sẽ được đảm bảo và nâng cao.
Theo Tổ chức Nông lương Thế giới, trong năm 2023, sản lượng cá da trơn (cá tra và cá ba sa) nuôi trồng tại khu vực Nam Á và Đông Nam Á là 3,41 triệu tấn cá thương phẩm, trong đó, Việt Nam đóng góp lớn nhất với 1,75 triệu tấn, chiếm 51%, vượt xa quốc gia xếp thứ hai là Indonesia với 0,35 triệu tấn, chiếm 10% tổng sản lượng. Cá tra chiếm đại đa số sản lượng, thường được thả và chăm sóc trong các ao nuôi, không phải trong lồng bè như ở các khu vực khác.
Trên thực tế, quản lý việc cho ăn và các biện pháp giảm thiểu lãng phí thức ăn trong chuồng và lồng thường dễ thực hiện hơn so với ao nuôi. Tỷ lệ thu hồi fillet cũng phụ thuộc vào loại thức ăn, mật độ nuôi, phương pháp cho ăn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR). Vì vậy, những dữ liệu toàn diện về yêu cầu dinh dưỡng thiết yếu của cá là cơ sở để xây dựng chế độ ăn cân bằng, đáp ứng nhu cầu trong từng giai đoạn, hỗ trợ sự sinh trưởng tối ưu của cá tra, từ đó, hạ thấp hệ số chuyển đổi thức ăn, đảm bảo hoạt động nuôi trồng có lãi và nâng cao lợi nhuận.
Trên thực tế, cá có nhu cầu protein, nhưng protein trong thức ăn được tiêu hóa thành các acid amin và peptide để cơ thể hấp thu và sử dụng. Vì vậy, protein từ cả nguồn thực vật và động vật đều có thể sử dụng trong thức ăn cá tra, nếu bảo đảm đáp ứng đầy đủ nhu cầu acid amin thiết yếu.
Hàm lượng protein trong thức ăn cho cá tra được xác định dựa trên việc ước tính lượng protein từ nguyên liệu phối trộn thức ăn, đảm bảo cung cấp đủ các acid amin cho sự sinh trưởng của cá. Thông thường, cá tra bột có nhu cầu protein trong thức ăn cao hơn, cá càng đạt khối lượng lớn thì nhu cầu protein càng giảm.
Hiện tại, chưa có một nghiên cứu đủ tin cậy nào về hàm lượng acid amin cần thiết cho cá tra. Chỉ biết rằng, thiếu bất kỳ loại acid amin quan trọng nào, đặc biệt là lysine (LYS) và methionine (MET) gây ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng thức ăn và sự sinh trưởng của cá tra.
Theo các chuyên gia, giải pháp tốt nhất là định lượng các acid amin trong cơ thể cá tra và sau đó, sử dụng Khái niệm protein lý tưởng (ideal protein) để ước tính nhu cầu acid amin và xây dựng công thức phối trộn thức ăn phù hợp để cá có thể hấp thu và sử dụng ở mức tối ưu, từ đó, đạt được năng suất và hiệu quả nuôi cao nhất.
Một số nghiên cứu mới đây đã đưa ra một vài gợi ý. Nghiên cứu của Yuangsoi và cộng sự (2016) trên chế độ ăn thử nghiệm với 4,76% bột cá, 48% bột đậu nành, 23,65% bột ngô và 4,59 đến 5% cám gạo, 8% cá và dầu đậu nành đưa ra kết luận, MET ở mức 0,63g/100g khẩu phần khô là tốt nhất cho tăng trưởng tối đa và hiệu quả sử dụng thức ăn.
Liqat et al. (2025), dựa trên thử nghiệm 6 công thức thức ăn không bột cá đưa ra kết luận, chế độ thức ăn cơ bản cho ca tra cần được bổ sung 6g/kg mỗi loại acid amin LYS, MET và threonine (Thr).
Dù chưa có nghiên cứu nào về nhu cầu acid béo cụ thể của cá tra, một vài nghiên cứu đã xem xét hàm lượng lipid thích hợp để kết hợp với thức ăn cho cá.
Kabir và cộng sự (2019) đã cho cá tra sinh sản tiêu thụ các chế độ dinh dưỡng với 30% protein thô, bổ sung 6%, 9% và 12% lipid từ dầu cá và dầu cọ. Từ đó, các nhà nghiên cứu nhận định, hàm lượng lipid từ 9% trở lên trong thức ăn cho hiệu suất sinh sản tốt hơn (thể hiện qua trọng lượng buồng trứng, khả năng sinh sản, trọng lượng trứng và khả năng thụ tinh) so với hàm lượng 6% lipid.
Cho đến nay chỉ có một số ít nghiên cứu được công bố về nhu cầu vitamin của cá tra. Daniel và cộng sự đã có các nghiên cứu vào năm 2016, 2018 và 2021 về nhu cầu acid ascorbic (Vitamin C) trong chế độ dinh dưỡng của cá tra.
Theo đó, việc bổ sung axit ascorbic ở chế độ ăn 350 – 700mg/kg mang lại hiệu quả kích thích miễn dịch cao nhất.
Về khoáng chất và các yếu tố vi lượng, bên cạnh một công bố duy nhất về nhu cầu selen (Thangarani et al., 2024), đã có nghiên cứu khác về nhu cầu kẽm của cá tra.
Singh và cộng sự (2017) xác định mức bổ sung 32 mg kẽm/kg thức ăn là phù hợp nhất, giúp cá tra đạt hiệu quả tăng trưởng và sử dụng dinh dưỡng tốt.
Thông tin dinh dưỡng chi tiết vô cùng cần thiết để phối trộn các công thức thức ăn hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá tra. Đây cũng là cơ sở cho lựa chọn dinh dưỡng thay thế cho các loại nguyên liệu thức ăn bị ảnh hưởng nguồn cung do căng thẳng địa chính trị hoặc biến đổi khí hậu. Hiện tại, các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á đang là những nhà sản xuất cá tra lớn nhất thế giới. Do đó, việc nghiên cứu và bổ sung những hiểu biết về nhu cầu dinh dưỡng của loài cá này cần được đẩy mạnh tại chính các quốc gia trong khu vực.
Hoàng Nguyên
(theo Aquaasiapac)