Nhận biết và phòng bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm nuôi

Chưa có đánh giá về bài viết

(TSVN) – Bệnh đốm trắng tiếp tục là một trong những thách thức lớn đối với nghề nuôi tôm khi có tốc độ lây lan nhanh và tỷ lệ gây chết cao. Trong điều kiện môi trường nuôi biến động, việc nhận biết sớm triệu chứng và chủ động phòng bệnh được xem là giải pháp quan trọng để bảo vệ an toàn ao nuôi.

Nguyên nhân

Bệnh do White Spot Syndrome Virus (WSSV), thuộc chi Whispovirus, họ Nimaviridae gây ra. Đây là loại virus có cấu trúc DNA sợi đôi, có màng bao lipid nên nhạy cảm với các chất diệt khuẩn nồng độ cao.

Kiểm soát chất lượng tôm giống là giải pháp quan trọng nhằm phòng bệnh đốm trắng

Đặc điểm dịch tễ

  • Loài cảm nhiễm: Tôm sú (Penaeus monodon), tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei), tôm nương (P. chinensis), tôm he Nhật Bản (P. japonicus), tôm bạc (P. merguiensis), tôm thẻ (P. semisulcatus), tôm rảo (Metapenaeus ensis); các loài giáp xác tự nhiên (cua, còng, tôm hoang dã) đóng vai trò là vật chủ mang mầm bệnh.
  • Giai đoạn nhiễm bệnh: Tôm có thể cảm nhiễm ở mọi giai đoạn từ hậu ấu trùng đến trưởng thành; trong đó nhạy cảm nhất là giai đoạn từ 20 – 45 ngày và 60 – 65 ngày sau khi thả nuôi.
  • Mùa vụ xuất hiện bệnh: Thường bùng phát mạnh vào các giai đoạn giao mùa khi thời tiết thay đổi đột ngột. Tại miền Bắc tập trung từ tháng 5 – 7; miền Trung từ tháng 2 – 5 và miền Nam từ tháng 11 – 3 năm sau.
  • Vùng xuất hiện bệnh: Bệnh mang tính toàn cầu và xuất hiện ở hầu hết các vùng nuôi tôm tại Việt Nam, chiếm 40 – 50% tổng số ổ dịch báo cáo hằng năm.
  • Phương thức truyền lây:
    • Truyền ngang: Qua nguồn nước, bùn đáy, thức ăn tươi sống, xác tôm chết, dụng cụ, phương tiện, người nuôi. Nguồn nước cấp chung chưa xử lý, không có ao lắng, hoặc thức ăn tươi sống chưa khử trùng. Các loài trung gian như giáp xác nhỏ, giun nhiều tơ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, mực, chim ăn tôm có thể phát tán virus giữa các ao hoặc vùng nuôi.
    • Truyền dọc: Từ tôm bố mẹ sang trứng, ấu trùng và hậu ấu trùng. Tôm bố mẹ mang mầm bệnh dù không biểu hiện vẫn có thể truyền virus cho thế hệ sau.

Dấu hiệu bệnh lý

  • Giai đoạn cấp tính: Tôm giảm ăn đột ngột hoặc bỏ ăn hoàn toàn, bơi lờ đờ, mất phương hướng và tấp mép bờ. Thân tôm chuyển sang màu hồng đỏ, vỏ dễ bong tróc, máu loãng và chậm đông. Triệu chứng đặc trưng là các đốm trắng tròn (đường kính 0,5 – 2 mm) xuất hiện dày đặc bên dưới lớp vỏ giáp đầu ngực và các đốt bụng. Tỷ lệ chết có thể đạt 80 – 100% chỉ trong vòng 2 – 5 ngày.
  • Giai đoạn mãn tính: Tôm nhiễm virus nhưng không biểu hiện dấu hiệu lâm sàng hoặc đốm trắng thưa thớt, thường xuất hiện trong điều kiện môi trường thuận lợi, ít biến động và không bị stress.

Chẩn đoán xét nghiệm

Mẫu bệnh phẩm (mang, chân bơi hoặc tôm nguyên con) được cố định ngay trong dung dịch cồn 90 – 95% theo tỷ lệ 1:10. Thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật PCR hoặc Real-time PCR theo tiêu chuẩn TCVN 8710-3:2019 tại phòng thử nghiệm đủ năng lực quy định tại khoản 19, 20 và 21 Điều 1 Thông tư số 12/2024/TT-BNNPTNT.

Phòng, chống dịch bệnh

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hoạt động phòng, chống dịch bệnh trên tôm nước lợ phải được triển khai theo nguyên tắc “phòng bệnh là chính”, tăng cường tính chủ động trong giám sát mầm bệnh và an toàn sinh học. Tuyệt đối không sử dụng kháng sinh với mục đích phòng bệnh.

Đốm trắng trên vỏ là một trong những dấu hiệu điển hình của tôm nhiễm WSSV

Đối với cơ sở nuôi tôm bố mẹ

  • Nguồn nước: Nước cấp vào hệ thống phải qua lưới lọc để loại bỏ vật chủ trung gian, kết hợp xử lý bằng hóa chất (Chlorine, Iodine), tia UV hoặc lọc tinh để diệt trừ mầm bệnh trước khi đưa vào hệ thống sản xuất. Nước được xử lý đảm bảo chất lượng theo quy định.
  • Nguồn gốc, chất lượng tôm bố mẹ: Chỉ sử dụng tôm bố mẹ sạch bệnh (SPF), có nguồn gốc rõ ràng. Việc quản lý, sử dụng tôm bố mẹ phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT ngày 09/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; Thông tư số 03/2026/TT-BNNMT ngày 13/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật thủy sản và các quy định pháp luật có liên quan.
  • Thức ăn: Sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến bảo đảm chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng quy cách, không bị nhiễm nấm mốc, nhiễm khuẩn. Đối với thức ăn tươi sống (như giun nhiều tơ, mực, hàu…), phải được xử lý phù hợp và kiểm soát mầm bệnh (ưu tiên kiểm tra bằng phương pháp PCR khi cần thiết), bảo đảm không mang mầm bệnh trước khi cho tôm ăn.
  • Sử dụng thuốc, hóa chất, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đối với cơ sở sản xuất, ương dưỡng tôm giống

  • Xử lý nguồn nước: Nước phải được khử trùng triệt để; khuyến khích sử dụng hệ thống màng siêu lọc hoặc Ozone để loại bỏ vi khuẩn Vibrio.
  • Vệ sinh bể và dụng cụ: Các bể đẻ, bể ương phải được vệ sinh, sát trùng bằng Chlorine nồng độ cao hoặc hóa chất kiềm mạnh trước và sau mỗi đợt sản xuất. Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng bể và thực hiện vệ sinh khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
  • Xử lý ấu trùng: Thực hiện rửa ấu trùng Nauplius hoặc trứng tôm bằng dung dịch Formol (100 – 200 ppm) hoặc Iodine (1 – 2 ppm) để tiêu diệt mầm bệnh bám ngoài vỏ.
  • Giám sát sức khỏe:
    • Bổ sung vitamin, khoáng chất để tăng đề kháng cho tôm giống.
    • Kiểm tra định kỳ các yếu tố môi trường (hàm lượng ôxy hòa tan, pH, độ kiềm, khí độc).
    • Thực hiện xét nghiệm PCR định kỳ 100% các lô tôm hậu ấu trùng (PL) trước khi xuất bán nhằm cắt đứt chuỗi lây truyền dịch bệnh.
  • Quản lý chất thải: Xác tôm và chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra môi trường.

Theo dõi sàng ăn hằng ngày giúp phát hiện sớm tôm giảm ăn

Đối với cơ sở nuôi tôm thương phẩm

  • Lựa chọn con giống: Sử dụng giống khỏe mạnh, nguồn gốc từ đàn bố mẹ SPF và đã được kiểm dịch theo quy định.
  • Ao lắng và ao xử lý nước độc lập; cấp nước qua màng lọc tinh. Thiết kế hệ thống xi phông đáy để loại bỏ chất thải hữu cơ và mầm bệnh.
  • Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học:
    • Trang bị lưới chắn chim, rào chắn ngăn chặn vật chủ trung gian như cua, còng.
    • Sử dụng dụng cụ riêng biệt cho từng ao và khử trùng sau mỗi lần sử dụng.
    • Hạn chế người lạ vào khu vực nuôi; thực hiện vệ sinh, khử trùng người và phương tiện khi ra vào cơ sở.
  • Quản lý môi trường và dinh dưỡng:
    • Duy trì các chỉ tiêu môi trường ổn định, hàm lượng ôxy hòa tan (DO > 5 mg/L), pH 7,5 – 8,3, hạn chế thay nước đột ngột gây stress cho tôm.
    • Sử dụng thức ăn chất lượng, bổ sung men vi sinh, Vitamin C, khoáng chất và chất kích thích miễn dịch (β-glucan) để nâng cao sức đề kháng.
    • Sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ để ức chế vi khuẩn có hại (Vibrio spp.) và ổn định hệ vi sinh vật ao nuôi.
  • Giám sát và báo cáo:
    • Theo dõi sức khỏe tôm hàng ngày; khuyến khích lấy mẫu xét nghiệm định kỳ 2 – 4 tuần/lần để phát hiện sớm mầm bệnh.
    • Khi tôm có dấu hiệu bệnh lý hoặc chết bất thường, phải báo cáo ngay cho cơ quan chức năng trong vòng 48 – 72 giờ.
    • Tuyệt đối không xả nước ao bệnh ra môi trường khi chưa qua xử lý khử trùng bằng Chlorine (nồng độ ≥ 30 ppm) trong ít nhất 7 ngày.
  • Quản lý chất thải: Xác tôm và chất thải phải được thu gom, xử lý bằng hóa chất đúng quy định trước khi xả ra môi trường.

Xây dựng và triển khai kế hoạch giám sát dịch bệnh

Công tác giám sát dịch bệnh phải được thực hiện thường xuyên nhằm phát hiện sớm tác nhân gây bệnh, kịp thời bao vây và xử lý ổ dịch ngay từ diện hẹp.

Giám sát chủ động

  • Chủ cơ sở nuôi phải chủ động lấy mẫu xét nghiệm theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành để nhận diện sớm các nguy cơ nhiễm mầm bệnh nguy hiểm.
  • Tần suất kiểm tra: Khuyến khích lấy mẫu tôm xét nghiệm tầm soát mầm bệnh định kỳ ít nhất 01 lần/tháng (hoặc 2 – 4 tuần/lần) đối với tôm nuôi thương phẩm, đặc biệt tại các vùng nuôi thâm canh, siêu thâm canh mật độ cao hoặc trong giai đoạn thời tiết biến động.

Đối với trại sản xuất giống: Thực hiện xét nghiệm PCR định kỳ 100% các lô tôm hậu ấu trùng (PL) trước khi xuất bán để đảm bảo cung cấp giống sạch bệnh ra thị trường.

Giám sát bị động

  • Khi phát hiện tôm nuôi có biểu hiện bệnh lý truyền nhiễm, chết nhanh với số lượng lớn hoặc chết bất thường không rõ nguyên nhân, chủ cơ sở phải thực hiện khai báo ngay lập tức.
  • Địa chỉ tiếp nhận: Nhân viên thú y cấp xã, UBND cấp xã hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành thú y thủy sản nơi gần nhất qua điện thoại, văn bản hoặc trực tiếp.
  • Thời hạn báo cáo: Không quá 48 giờ đối với vùng đồng bằng và 72 giờ đối với vùng sâu, vùng xa tính từ thời điểm phát hiện dấu hiệu bệnh.
  • Phối hợp lấy mẫu: Chủ cơ sở phối hợp với cán bộ chuyên môn để kiểm tra và lấy mẫu gửi phòng thử nghiệm đủ năng lực. Mẫu bệnh phẩm được cố định ngay trong cồn Ethanol 90% – 95% với tỷ lệ thể tích 1:10 để đảm bảo chất lượng xét nghiệm PCR.

Xử lý kết quả dương tính

  • Thông báo: Chủ cơ sở phải thông báo cho các hộ nuôi xung quanh để cùng triển khai biện pháp phòng bệnh, tránh dịch lây lan trên diện rộng.
  • Cô lập ao bị bệnh: Ngừng ngay việc cho ăn, tuyệt đối không thay nước hoặc xả nước chưa qua xử lý ra môi trường chung nhằm chặn đứng dòng lây lan.
  • Tiêu hủy tôm bệnh:
    • Tiêu hủy trực tiếp trong ao bằng hóa chất Chlorine (nồng độ 40 – 100 ppm) hoặc vôi bột để tiêu diệt hoàn toàn sinh khối tôm nhiễm bệnh.
    • Xác tôm sau tiêu hủy bắt buộc phải ngâm trong ao ít nhất 07 ngày để hóa chất tiêu diệt triệt để mầm bệnh ẩn sâu trong mô tế bào và để dư lượng hóa chất tự phân hủy trước khi xả thải.
    • Thu hoạch: Trường hợp tôm đạt kích cỡ thương phẩm, khuyến khích thu hoạch sớm và chỉ được phép vận chuyển tôm ra ngoài vùng có dịch sau khi đã xử lý theo hướng dẫn của cơ quan quản lý chuyên ngành thủy sản hoặc thú y và hướng dẫn thực hiện của UBND xã.
  • Xử lý tôm chưa đạt kích cỡ thu hoạch:
    • Nếu tôm dương tính nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng: Tăng cường chăm sóc, bổ sung Vitamin C, Vitamin E, khoáng chất và các chất kích thích miễn dịch (β-glucan) để nâng cao sức đề kháng.
    • Nếu tôm có biểu hiện bệnh lý rõ rệt: Cân nhắc thu hoạch hoặc tiêu hủy tùy theo mức độ thiệt hại và giá trị kinh tế tại thời điểm đó.
  • Vệ sinh môi trường: Khử trùng triệt để nước và bùn đáy ao bệnh bằng Chlorine nồng độ ≥ 30 ppm; tiêu độc dụng cụ, lưới, thiết bị quạt nước và khu vực bờ ao bằng hóa chất sát trùng mạnh.
  • Giám sát các ao chưa bị bệnh: Theo dõi chặt chẽ sức khỏe tôm và các chỉ tiêu môi trường; thực hiện an toàn sinh học nghiêm ngặt, hạn chế người và dụng cụ di chuyển giữa các ao để tránh lây nhiễm chéo.

Duy trì môi trường ao nuôi ổn định là chìa khóa để phòng bệnh đốm trắng trên tôm

Diệu Châu

————————-

Tài liệu tham khảo:

Cục Thủy sản và Kiểm ngư (2026). Hướng dẫn biện pháp phòng, chống một số bệnh nguy hiểm trên tôm nước lợ (Ban hành kèm theo Quyết định số 123/QĐ-TSKN ngày 20 tháng 03 năm 2026).

Bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Hãy là người đầu tiên bình luận trong bài